Kiếp Sau   Marc Levy Pages  1  2  3  Next   
Giới Thiệu

Marc Levy đă sống ở Mỹ bảy năm, tại San Francisco, nơi ông đă thành lập một công ty thiết kế h́nh ảnh tổng hợp, sau đó trở về Paris điều hành một văn pḥng kiến trúc sư. Năm 2000, ông cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Nếu em không phải một giấc mơ…: Cuốn sách này được xếp trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất trong suốt 70 tuần và được hăng Dreamworks dựng thành phim. Tháng 11 năm 2001, ông cho ra mắt tác phẩm thứ 2, Em ở đâu?, Tiếp theo là Bảy ngày cho vĩnh viễn…(2003) và Kiếp sau (2004). Cả cuốn tiểu thuyết này cho tới nay mỗi cuốn đă bán được hơn năm triệu bản. Marc Levy hiện đang sống ở New York và Paris.

Cho Louis, cho chị gái Loraine của tôi
Jonathan,
Cậu có c̣n mang cái tên đó nữa không? Đến hôm nay tớ mới nhận ra c̣n biết bao nhiêu điều tớ chưa biết tới và tớ cố t́m mọi cách để đẩy lui những giới hạn của sự trống rỗng vẫn vây quanh tớ kể từ ngày cậu ra đi. Mỗi khi nỗi cô đơn kéo tới làm u ám cuộc đời, tớ thường nh́n lên trời, rồi nh́n xuống đất và có một cảm giác mănh liệt rằng cậu vẫn c̣n ở

Nguyên tác tiếng Pháp: La prochaine fois
Dịch Giả: Nguyễn Hương Lan  

đâu đó quanh đây. Và cứ như vậy trong suốt nhiều năm, tớ vẫn tin vào điều đó, duy chỉ có tớ và cậu không thể gặp nhau, không thể nghe thấy tiếng của nhau.
Dường như chúng ta c̣n có thể đi ngang qua nhau mà không nhận ra nhau.
Tớ vẫn không ngừng đọc kể từ ngày cậu ra đi, tớ đă đi rất nhiều nơi để t́m kiếm cậu, t́m cách để hiểu một điều ǵ đó. Và những trang cuộc đời cứ càng mở ra, tớ càng nhận thấy rằng sự hiểu biết càng rời xa tớ, giống như trong những cơn ác mộng mà mỗi bước tiến lên lại là một bước lùi.
Tớ đă đi khắp các gian pḥng của những thư viện lớn, những con đường trong thành phố đă từng là của chúng ta, nơi chúng ta đă từng chia sẻ với nhau biết bao kỷ niệm từ thời thơ ấu. Hôm qua, tớ đă thả bộ dọc bờ song, trên những con đường lát gạch trong khu chợ không có mái che mà cậu từng yêu thích. Tớ đă dừng lại chỗ này, chỗ khác, có cảm giác như cậu vẫn đang đi cùng tớ, rồi tớ quay về cái quán rượu nhỏ gần cảng như mỗi ngày thứ sáu hàng tuần. Cậu có c̣n nhớ không? Chúng ta vẫn thường xuyên gặp nhau ở đó vào lúc chiều buông xuống. Chúng ta đă vui vẻ tán dóc với nhau rất lâu về tất cả những niềm đam mê mà chúng ta cùng chia sẻ. Và chúng ta đă bàn luận hàng giờ liền về những bức tranh đă làm cuộc sống của chúng ta trở nên sống động hơn và cho phép chúng ta vượt thời gian để quay về những thời đại khác nhau trong quá khứ.
Chúa ơi, tớ và cậu đă cùng yêu hội họa biết bao! Tớ vẫn thường đọc những cuốn sách cậu đă viết, đă gặp lại trong đó văn phong của cậu cũng như những ǵ cậu từng yêu thích.
Jonathan, tớ ko biết cậu đang ở đâu. Tớ ko biết tất cả những ǵ chúng ta đă từng có với nhau có ư nghĩa ǵ không, không biết sự thật có tồn tại hay ko, nhưng nếu một ngày cậu đọc được lá thư này, th́ khi đó cậu sẽ biết tớ đă thwcj hiện lời hứa với cậu.
Tớ biết rằng khi đứng trước bức tranh, cậu sẽ chắp tay sau lưng, cậu sẽ nheo mắt lại như mỗi khi gặp điều ǵ đó ngạc nhiên, rồi cậu sẽ mỉm cười. Nếu mọi chuyện đúng như tớ hằng mong ước, cô ấy sẽ đừng bên cậu, cậu sẽ ôm cô ấy trong ṿng tay, cậu và cô ấy sẽ cùng ngắm nh́n bức tranh tuyệt tác mà chúng ta đă có đặc quyền chia sẻ cùng nhau, và rồi có thể, rất có thể cậu sẽ nhớ ra. Khi đó, nếu mọi chuyện đă diễn ra đúng như vậy, đến lượt tớ yêu cầu cậu một điều, cậu c̣n nợ tớ điều đó. Mà thôi, hăy quên đi điều tớ vừa viết ra, trong t́nh bạn không ai nợ ai điều ǵ cả. Nhưng đây là điều tớ muốn:
Hăy nói với cô ấy, nói với cô ấy rằng ở đâu đó trong trái tim này ở rất xa hai người, tớ đă từng cùng cậu đi qua những con phố, cùng cậu ngồi cười đùa quanh một chiếc bàn, và v́ những phiến đá sẽ tồn tại thật lâu, hăy nói với cô ấy rằng trên những phiến đá nơi chúng ta đă cùng nh́n và cùng đặt bàn tay lên, sẽ c̣n măi một phần câu chuyện của chúng ta. Hăy nói với cô ấy, Jonathan, rằng tớ đă từng là bạn cậu, rằng cậu đă từng là một người anh em của tớ, và có thể c̣n hơn thế nữa v́ chúng ta đă chọn nhau, hăy nói với cô ấy rằng sẽ không bao giờ có điều ǵ có thể chia rẽ tớ và cậu, kể cả sự ra đi vô cùng đột ngột của hai người.
Kể từ hôm ấy, không một ngày nào trôi qua tớ không nhớ tới hai người và luôn cầu mong cho hai người được sống hạnh phúc bên nhau.
Giờ tớ đă là một ông già, Jonathan ạ, giờ ra đi của tớ sắp điểm, nhưng nhờ có hai người, tớ đă trở thành một ông già với trái tim ngập tràn ánh sáng, thứ ánh sáng khiến nó trở nên thanh thản. Tớ đă yêu! Có chăng mỗi con người đều có thể ra đi với điều may mắn vô giá ấy?
Một vài ḍng nữa thôi và rồi cậu sẽ gấp lá thư này lại, cậu sẽ yên lặng cất nó vào túi áo, sau đó cậu sẽ chắp hai tay sau lưng và cậu sẽ mỉm cười, cũng giống như tớ khi đang viết những ḍng cuối cùng này cho cậu. Tớ cũng vậy, Jonathan, tớ đang cười, và nụ cười chưa bao giờ tắt trên môi tớ.
Chúc hai người hạnh phúc.
Bạn của cậu, Peter.


Chương 1

- Tớ đây, tớ chuẩn bị rời Stapledon và sẽ tới trước nhà cậu trong nửa tiếng nữa, hy vọng cậu có nhà chứ? Cái máy nhắn tin chết tiệt! Tớ tới ngay đây.
Peter bực dọc gác máy, lục trong túi áo t́m chum ch́a khóa cho đến khi nhớ ra hôm trước anh đă đưa nó cho tài xế. Anh nh́n đồng hồ, chuyến bay tới Miami sẽ cất cánh khỏi sân bay Logan vào cuối buổi chiều, nhưng trong thời buổi nhộn nhạo này, các quy định mới về an ninh buộc hành khách phải tới sân bay tối thiểu hai tiếng trước giờ khởi hành. Anh khóa cửa căn hộ nhỏ và lịch sự nằm trong một khu phố tài chính mà anh đă thuê cả năm, rồi đi theo dăy hành lang phủ thảm dày. Anh ấn ba lần lên nút gọi thang máy, một cử chỉ nóng ruột chưa bao giờ khiến thang máy đến nhanh hơn. C̣n những mười tám tầng nhà phía dưới, rồi anh vội vă bước qua mặt ông Jenkins, người gác cổng toàn nhà, và thông báo với ông rằng anh sẽ trở về vào ngày mai. Anh đặt cạnh cửa quầy gác một túi quần áo để hiệu giặt là bên cạnh ṭa nhà sẽ cho người sang lấy. Ông Jenkins cất vào ngăn kéo cuốn Văn học và nghệ thuật của nhà xuất bản Boston Globe mà ông đang đọc dở, ghi lời yêu cầu của Peter vào quyển đăng kí dịch vụ, rồi rời quầy gác chạy theo anh và mở cửa.
Ra tới bậc thềm, ông mở một chiếc ô thật to và che cho Peter khỏi những giọt mưa rào nhẹ đang rơi trên thành phố.
- Tôi đă gọi xe cho ông, ông thông báo, mắt chăm chăm nh́n đường chân trời mờ mịt.
- Ông thật tốt bụng, Peter trả lời giọng khô khốc.
- Bà Beth, hàng xóm cùng tầng với ông, hiện đang vắng nhà, nên khi nh́n thấy thang máy dừng lại ở tầng đó, tôi đă đoán được…
- Tôi biết bà Beth là ai rồi, Jenkins!
Người gác cổng nh́n những dải mây xám và trắng lơ lửng trên đầu họ.
- Thời tiết thật đáng ghét phải không ông? Ông tiếp lời.
Peter không trả lời. Anh dị ứng với những tiện nghi đời sống ở một khu nhà sang trọng. Mỗi lần đi qua quầy gác của ông Jenkins, anh lại có cảm giác một phần riêng tư của ḿnh bị xâm phạm. Đằng sau quầy gác đối diện với những cánh cửa lớn hai chiều, người đàn ông với cuốn sổ ghi chép kiểm tra mọi lượt đi về của từng người sống trong ṭa nhà. Peter tin chắc rằng cuối cùng th́ người gác cổng này sẽ biết rơ mọi thói quen của anh hơn phần đông bạn bè anh. Một hôm, với tâm trạng không vui, anh rời ṭa nhà theo lối cầu thang dẫn ra khu để xe. Khi trở về, anh ngạo nghễ đi ngang qua Jenkins, trong khi ông th́ lại nhă nhặn đưa cho anh một chiếc ch́a khóa đầu tṛn. Khi anh sững sờ nh́n lại, Jenkins nói giọng thản nhiên:
- Nếu ông muốn quay lại bằng đường đă đi ra, th́ nó sẽ rất hữu dụng với ông. Các cửa nối hành lang và cầu thang ở mỗi tầng đều được khóa từ bên trong, nó sẽ giúp ông đối phó với vấn đề bực ḿnh này.
Trong thang máy, Peter đă hứa danh dự với bản thân không bao giờ để lộ bất cứ cảm xúc nào, v́ biết chắc Jenkins sẽ không bỏ qua mảy may một thái độ nào của anh nhờ vào camera theo dơi. Và đến khi, sáu tháng sau, khi anh có mối quan hệ ngắn ngủi với một cô tên là Thaly, một nữ nghệ sĩ trẻ đang lên, anh đă ngạc nhiên khi thấy ḿnh qua đêm tại khách sạn v́ thích không ai nhận ra ḿnh. C̣n hơn là phải nh́n cái vẻ mặt sáng lên của người gác cổng, tâm trạng vui vẻ bất di bất dịch mỗi sáng của ông ta khiến anh khó chịu hơn bao giờ hết.
- Tôi nghĩ ḿnh đă nghe thấy tiếng động cơ xe của ông. Ông sẽ không phải đợi lâu đâu, thưa ông.
- Ông c̣n nhận ra từng chiếc xe qua tiếng động cơ của chúng cơ à, Jenkins? Peter buột miệng nói hơi xấc.
- Ồ, không phải tất cả các xe, nhưng chiếc Ăng- lê cũ của ông, ông sẽ thừa nhận với tôi thôi, có những tiếng lách cách nhè nhẹ phát ra từ thanh truyền, nghe như "Đa đê đô", gợi nhớ đến âm điệu tuyệt vời của những người họ hàng chúng tôi ở bên Anh.
Peter nhướn mày, anh nổi cáu. Jenkins thuộc loại người cả đời chỉ mơ được sinh ra là một công dân của Nữ hoàng, một sự vượt trội về đẳng cấp trong cái thành phố đặc sệt truyền thống Ăng- lê này. Đôi đèn pha tṛn của chiếc hộp hiệu Jaguar XK 140 lóe sáng từ cổng nhà xe. Người tài xế dừng chiếc xe trên hàng vạch trắng được vẽ chính giữa bậc thềm.
- Thật vậy sao, Jenkins thân mến! Peter thốt lên và tiến tới cánh cửa xe mà người tài xế đă mở sẵn cho anh.
Vẻ mặt nhăn nhó, Peter ngồi vào sau vô- lăng, khởi động máy làm chiếc xe Ăng- lê cũ gầm gừ, đồng thời khẽ đưa tay vẫy Jenkins.
Anh nh́n qua kính chiếu hậu để kiểm chứng rằng ông ta, theo thói quen, sẽ chờ anh rẽ ở góc đường rồi mới tự cho phép ḿnh quay vào.
- Bộ xương già! Lăo sinh ra ở Chicago, cả gia đ́nh lăo đều ra đời ở Chicago! Anh lẩm bẩm.
Anh đặt chiếc điện thoại di động vào giá gác và ấn phím tắt lưu số điện thoại nhà Jonathan. Anh ghé vào chiếc micro được gắn vào tấm chắn nắng và hét lên:
- Tớ biết cậu có ở nhà! Cậu không thể h́nh dung được cái thiết bị chặn cuộc gọi của cậu làm tớ khó chịu thế nào đâu. Dù cậu có đang làm ǵ đi nữa, th́ cậu cũng chỉ c̣n chín phút nữa thôi. Đấy. tốt nhất là cậu nên ở nhà.
Anh cúi người để thay đổi tần số chiếc radio được đặt trong hộc đựng găng. Khi ngẩng lên, anh phát hiện ra trước mũi xe anh một quăng, một bà lăo đang đi qua đường. Tập trung hơn một chút anh nhận ra bà đang đi bằng bước chân đôi khi nặng trĩu bởi tuổi già. Lốp xe để lại một vài vệt đen trên mặt đường trải nhựa. Khi chiếc xe đă dừng hẳn, Peter mở choàng mắt. Bà cụ vẫn tiếp tục sang đường b́nh thản. Hai tay vẫn c̣n bấu chặt lấy vô- lăng, anh hít một hơi, tháo dây bảo hiểm và khom người bước xuống xe. Anh rảo bước và luôn miệng nhận lỗi, khoác tay d́u bà đi nốt vài mét c̣n lại cho tới vỉa hè.
Anh đưa bà cụ tấm các của ḿnh và lại xin lỗi. Bằng tất cả sự quyến rũ của ḿnh, anh thề rằng sẽ c̣n ân hận v́ đă gây ra cho bà cụ nỗi sợ hăi nhường ấy hàng tuần lễ. Bà cụ tỏ vẻ vô cùng ngạc nhiên. Bà trấn an anh bằng cách huơ huơ chiếc gậy trắng. Chắc chắn bà nặng tai nên mới giật ḿnh rồi nén lại được khi anh nhă nhặn nắm lấy khuỷu tay để giúp bà qua đường. Peter lấy đầu ngón tay nhặt một sợi tóc vương trên áo mưa của bà cụ và để bà đi tiếp, c̣n ḿnh th́ quay trở lại xe. Anh trấn tĩnh lại trong mùi da cũ quen thuộc tràn ngập chiếc xe cổ. Anh tiếp tục lái chầm chậm trên c̣n đường dẫn tới nhà Jonathan. Đến ngă tư thứ ba, anh đă bắt đầu huưt sáo.
Jonathan leo những bậc thang của ngôi nhà xinh đẹp nơi anh sống trong khu cảng cũ. Đến tầng cuối cùng, cửa cầu thang mở ra dẫn tới căn xưởng ốp kính nơi người bạn gái sống cùng anh đang vẽ tranh. Anna Valton và anh gặp nhau trong một buổi tối khai mạc triển lăm. Một hội do một nhà sưu tầm nữ giàu có và kín đáo trong thành phố sáng lập đă giới thiệu các tác phẩm của Anna. Xem những bức tranh được trưng bày của Anna, anh có cảm giác tranh của cô luôn ẩn chứa một phong thái trang nhă của tác giả. Phong cách của cô thuộc về một thế kỷ mà anh đă dành cả sự nghiệp để nghiên cứu. Phong cảnh trong tranh của Anna dường như vô tận, không cùng, và anh đă b́nh luận với cô bằng những lời lẽ chọn lọc và xác đáng. T́nh cảm của một nhà chuyên môn tên tuổi và uy tín ỡ như Jonathan đă đi thẳng vào trái tim của cô gái lần đầu được triển lăm tranh.
Từ đó, họ gần như không rời nhau và đến mùa xuân năm sau, họ đă dọn đến sống trong ngôi nhà do Anna chọn ở gần bến cảng cũ này. Căn pḥng nơi cô ở phần lớn thời gian ban ngày và đôi khi cả ban đêm có cả một khoảng rộng ốp kính. Ngay từ những giờ đầu tiên của buổi sớm, ánh sáng đă tỏa khắp gian pḥng, bao phủ nó bằng một bầu không khí nhuốm màu ḱ diệu. Mặt sàn mênh mông vàng óng với những dải gỗ rộng trải dài từ chân tường gạch trắng tới tận các cửa sổ lớn. Mỗi khi rời cọ vẽ, Anna thích đốt một điếu thuốc, tới ngồi bên một trong những bậu cửa sổ bằng gỗ, nơi tầm nh́n trải rộng ra khắp băi vịnh. Bất kể thời tiết thế nào, cô cũng nâng những cánh cửa sổ có thể kéo lên dễ dàng nhờ những sợi dây kéo bằng gai, và hít lấy không khí êm dịu pha trộn giữa mùi thuốc lá với cái ẩm ướt do biển mang lại.
Chiếc Jaguar của Peter đậu dọc bên lề đường.
- Em nghĩ bạn anh đến đấy, cô nói khi nghe thấy tiếng Jonathan phía sau.
Anh tiến lại gần và ôm cô trong ṿng tay, vùi đầu vào khoảng tối nơi cổ cô với một nụ hôn. Anna rùng ḿnh.
- Anh sẽ làm Peter phải chờ mất!
Jonathan luồn tay qua cổ chiếc váy sợi bông và kéo nó trượt xuống ngực Anna. Những tiếng c̣i xe lại réo lên, cô vui vẻ đẩy anh ra.
- Người làm chứng của anh hơi phiền phức đấy, anh đi đi, đi nhanh tới cái hội thảo của anh đi, anh càng đi nhanh th́ sẽ càng sớm về.
Jonathan lại hôn cô và đi giật lùi ra. Khi cánh cửa đă sập lại, Anna lại châm một điếu thuốc mới. Từ phía dưới, bàn tay của Peter thoáng hiện khỏi xe để chào cô khi chiếc xe đi xa dần. Anna thở dài và đưa mắt nh́n về phía bến cảng cũ nơi trước kia có biết bao nhiêu người di cư đă cập bến.
- Sao cậu chẳng khi nào đúng giờ thế? Peter hỏi.
- Giờ của cậu ấy à?
- Không, giờ máy bay cất cánh, giờ người ta hẹn nhau để ăn trưa hoặc ăn tối, giờ hiển thị trên đồng hồ của chúng ta, nhưng cậu có thèm đeo đồng hồ đâu!
- Cậu là nô lệ của thời gian, c̣n tớ chống lại nó.
- Khi cậu nói một điều như thế với bác sĩ tâm lư của cậu, cậu có biết ông ta sẽ chẳng thèm nghe thêm bất cứ lời nào cậu thốt ra sau đó không? Ông ta sẽ tự nhủ, không biết nhờ cậu, liệu ông ta có thể mua được chiếc xe hằng mơ ước loại nào, xe hộp hay mui trần.
- Tớ không có bác sĩ tâm lư!
- Vậy th́ cậu nên suy nghĩ lại. Cậu thấy thế nào?
- C̣n cậu, điều ǵ khiến cậu phấn chấn thế?
- Cậu đă đọc các tập san Văn học và Nghệ thuật của Nhà xuất bản Boston Globe chưa?
- Chưa, Jonathan trả lời vừa nh́n qua cửa kính xe.
- Đến Jenkins c̣n đọc chúng rồi! Tớ vừa bị báo chí cho lên thớt rồi!
- Thế hả?
- Cậu đọc nó rồi!
- Một chút xíu thôi, Jonathan trả lời.
- Một lần hồi c̣n đi học, tớ hỏi cậu có từng ngủ với Kathy Miller mà tớ mê mệt chưa, cậu cũng trả lời: "Một chút thôi". Cậu có thể định nghĩa cho tớ biết điều cậu muốn nói bằng "một chút thôi" không? Từ hai mươi năm nay tớ vẫn thắc mắc đấy…
Peter đập tay vào vô- lăng.
- Không thể được, cậu có thấy cái tiêu đề chèo kéo: " Những buổi bán đấu giá gần đây của chuyên gia đấu giá Peter Gwel thật đáng thất vọng!" Ai đă từng phá vỡ kỉ lục vô song đáng nhớ trong ṿng mười năm trở lại đây cho một tác phẩm của Seurat? Ai đă bán tranh của Renoir cao giá nhất từ mười năm nay? Rồi bộ sưu tập của Bowen với tranh của Jongkind, của Monet, của Mary Cassatt và những bức khác? Và ai là một trong những người đầu tiên bảo vệ Vuillard? Cậu thấy giờ ông ta có giá thế nào chưa?
- Peter, cậu cáu làm ǵ, nghề phê b́nh là phải phê b́nh, thế thôi.
- Trong máy nhắn của tớ có đến mười bốn tin nhắn đầy lo lắng của những người hùn vốn với tớ ở Christie’s, đó là điều làm tớ bực đấy!
Anh dừng lại trước ngă tư đèn đỏ và tiếp tục cáu kỉnh. Jonathan chờ vài phút và vặn nút radio. Giọng nói của Louis Amstrong vang lên trong xe. Jonathan chợt nh́n thấy một chiếc hộp đặt trên băng sau.
- Ǵ thế kia?
- Chẳng ǵ sất! Peter lẩm bẩm.
- Jonathan quay lại và liệt kê những thứ bên trong, vẻ hớn hở.
- Một máy cạo râu, ba chiếc sơ mi rách, hai ống quần ngủ, ống nọ tách rời khỏi ống kia, một đôi giày thiếu dây buộc, bốn lá thư bị xé nát, tất cả đều dính đầy xốt cà chua…Cậu chia tay rồi hả?
Peter vặn người đẩy chiếc hộp các- tông xuống sàn.
- Cậu chưa bao giờ có một tuần lễ xui xẻo nào hả? Peter vừa đáp lại vừa vặn to âm thanh của chiếc radio.
Jonathan nhận thấy mối lo của bạn tăng dần, anh liền góp ư.
- Cậu chẳng có ǵ phải lo lắng cả, cậu đối đáp tài lắm kia mà!
- Đó chính là loại suy nghĩ ngu xuẩn khiến con người ta lao thẳng vào tường.
- Tớ đă bị một vố sợ chết khiếp khi lái xe rồi, Peter nói.
- Bao giờ?
- Ban năy, lúc vừa ra khỏi nhà tớ.
Chiếc Jaguar vọt lên và Jonathan nh́n những dăy nhà cũ của khu bến cảng lướt qua cửa kính xe. Họ đi theo đường tắt dẫn tới sân bay Quốc tế Logan.
- Jenkins thân mến ra sao rồi? Jonathan hỏi.
Peter đưa xe vào chỗ đậu đối diện với cḥi gác. Anh kín đáo luồn một tờ giấy bạc vào tay người gác trong khi Jonathan vớ lấy chiếc túi cũ để phía sau. Họ đi lên theo lối để xe, bước chân âm vang. Như mọi lần đi máy bay, Peter mất hết tính kiên nhẫn khi người ta yêu cầu anh tháo thắt lưng và cởi giày bởi anh đă làm cửa kiểm tra an ninh réo chuông ba lần khi đi qua. Anh lẩm bẩm vài lời không mấy nhă nhặn và nhân viên phụ trách liền kiểm tra hành lư của anh cho đến từng chi tiết nhỏ nhất. Jonathan ra hiệu rằng ḿnh sẽ chờ tại quầy báo như thường lệ. Khi Peter đuổi kịp Jonathan, anh đang vùi đầu vào một cuốn sách của Milton Mezz Mezrow, một tuyển tập nhạc jazz. Jonathan mua cuốn sách. Họ lên máy bay mà không gặp thêm trở ngại ǵ và chuyến bay khởi hành đúng giờ. Jonathan từ chối khay thức ăn mà tiếp viên hàng không mang đến, hạ lá trập của cửa kính máy bay, bật chiếc đèn sáng dịu và miệt mài đọc những ghi chép chuẩn bị cho hội thảo mà anh sẽ dự trong vài giờ nữa. Peter xem lướt cuốn tạp chí của hăng hàng không, rồi tới bảng chỉ dẫn an toàn, và cuối cùng là cuốn bán hàng trên máy bay mà anh đă thuộc long. Rồi anh đu đưa người trên ghế.
- Cậu chán hả? Jonathan hỏi mà không rời mắt khỏi tập tài liệu đang xem dở.
- Tớ đang suy nghĩ đấy chứ!
- Tớ đă bảo mà, cậu đang chán.
- Cậu th́ không thế chắc?
- Tớ đang ôn lại cho buổi hội thảo.
- Cậu đúng là bị lăo ta ám ảnh mất rồi, Peter trả đũa và lại với tay lấy chỉ dẫn an toàn của chiếc 737.
- Bị mê hoặc chứ!
- Với t́nh trạng đắm đuối đến mức đó, bạn yêu quư, tớ xịn phép nhấn mạnh tới bản chất áp đặt trong mối quan hệ giữa cái lăo nghệ sỹ người Nga ấy với cậu.
- Vladimir Radskin đă qua đời từ cuối thế kỷ thứ XIX, tớ chẳng có mối quan hệ nào với ông ta, mà chỉ với tác phẩm của ông ta thôi.
Jonathan lại mải miết đọc, một khoảng im lặng ngắn ngủi bao trùm.
- Tớ vừa thoáng thấy cái cảm giác "đă từng gặp", Peter ranh mănh nói qua đầu môi, những cũng có thể đó là do đây là lần thứ một trăm chúng ta bàn về chuyện này rồi.
- Thế cậu làm ǵ trong máy bay này nếu cậu không bị nhiễm cùng loại virus với tớ, hả?
- Thứ nhất, tớ đi theo cậu, thứ hai, tớ trốn những cú điện thoại của các đồng nghiệp đang phát hoảng v́ bài báo của một thằng ngốc trên Boston Globe, và thứ ba, tớ đang buồn.
Peter lấy một chiếc bút dạ từ trong túi áo vét và gạch một dấu thập lên tờ giấy kẻ ô vuông trên đó Jonathan đă trân trọng viết những ghi chép của ḿnh. Không rời mắt khỏi tập ảnh đang nghiên cứu dở, Jonathan vẽ một dấu tṛn bên cạnh dấu thập của Peter. Ngay lập tức, Peter đánh trả lại một dấu thập khác và Jonathan gạch dấu tṛn tiếp theo theo đường chéo…
Chuyến bay hạ cánh sớm mười phút so với dự định. Họ không có hành lư gửi theo và chiếc taxi đưa họ thẳng tới khách sạn. Peter nh́n đồng hồ và thông báo họ có hơn một tiếng trước khi hội thảo bắt đầu. Sau khi đă hoàn thành thủ tục tại quầy lễ tân, Jonathan lên pḥng thay quần áo. Cánh cửa pḥng khép lại sau lưng anh không một tiếng động. Anh đặt túi lên chiếc bàn giấy bằng gỗ gụ kê đối diện cửa sổ và với tay lấy điện thoại. Khi Anna nhấc máy, anh nhắm mắt, để long ḿnh cuốn theo giọng nói của cô, cảm giác như anh đang ở cạnh cô trong xưởng vẽ. Đèn trong xưởng đă tắt hết. Anna đang ngồi trên bậu cửa sổ. Phía trên cô, qua những ô kính rộng, một vài ánh sao lấp lánh trong quầng sáng yếu dần của ánh đèn thành phố, trông như những điểm sáng nhẹ được thêu trên một tấm vải nhạt màu. Những làn gió ẩm ướt của biển quất vào các cửa kính cũ, đọng lại trên các gờ cửa bằng ch́. Thời gian gần đây, Anna xa cách với Jonathan, giống như một nỗi sợ hăi trước sự cam kết cho cả cuộc đời. Thế nhưng, chính cô là người mong muốn nghi lễ này hơn cả. Thành phố của họ cũng bảo thủ giống như môi trường nghệ thuật mà họ đang tham dự. Sau hai năm sống chung, đă đến lúc cần hợp thức hóa mối quan hệ của họ. Các khuôn mặt của xă hội Boston nhắc nhở họ điều đó vào mỗi buổi tiệc rượu thời thượng, mỗi dịp khai mạc triển lăm, mỗi buổi bán đấu giá quy mô.
Jonathan và Anna đă chịu thua sức ép của giới thượng lưu. Vẻ bề ngoài đẹp đẽ của cặp uyên ương chính là bằng chứng cho sự thành công trong sự nghiệp của Jonathan. Phía đầu dây bên kia, Anna im lặng, anh nghe tiếng thở của cô và đoán xem cô đang làm ǵ. Những ngón tay dài của Anna đang lùa trong mái tóc dày. Nhắm mắt lại, dường như anh có thể cảm thấy da thịt cô. Vào cuối ngày, mùi nước hoa của cô lẫn với mùi thơm của gỗ tràn ngập mọi ngóc ngách của xưởng vẽ. Cuộc nói chuyện của họ kết thúc bằng sự im lặng, Jonathan gác máy và mở mắt ra. Phía dưới cửa sổ pḥng anh, một hàng xe hơi nối đuôi nhau thành dải băng dài màu đỏ. Cảm giác cô độc xâm chiếm anh, giống như mọi lần xa nhà. Anh thở dài, tự hỏi tại sao ḿnh lại nhận lời mời tới buổi hội thảo này. Một giờ trôi qua, anh với tay dỡ hành lư ra và chọn lấy một chiếc sơ mi trắng.

Chương 2

Jonathan lấy hơi trước khi bước lên bục. Anh được đón tiếp bằng các tràng vỗ tay, rồi cử tọa ch́m vào trong không gian mờ tối. Anh ngồi vào sau một cái bàn có lắp chiếc đèn bằng đồng như thổi ánh sáng lên bài viết của anh; Jonathan nắm rơ bài phát biểu của ḿnh; anh đă thuộc ḷng những ǵ muốn tŕnh bày. Tác phẩm đầu tiên của Vladimir Radskin mà anh giới thiệu tối nay được chiếu lên một màn h́nh khổng lồ phía sau lưng. Anh chọn cách cho tŕnh chiếu các bức tranh của nhà danh họa người Nga theo tŕnh tự ngược thời gian. Loạt đầu tiên với các khung cảnh nông thôn nước Anh thể hiện rơ công tŕnh mà Radskin đă hoàn thành vào cuối cuộc đời do bệnh tật mà yểu mệnh của ông.
Radskin đă vẽ những bức họa cuối cùng trong pḥng ngủ, nơi mà căn bệnh đă không cho phép ông rời bước. Ông qua đời ở tuổi sáu mươi hai. Hai bức chân dung lớn nhất của Ngài Edward Langton, thương gia, nhà sưu tầm danh tiếng đă bảo trợ cho Vladimir Radskin, một vẽ ông đang đứng, bức kia tả ông ngồi sau một chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ. Mười bức tranh khắc họa với một sự nhạy cảm không giới hạn cuộc sống của dân nghèo tại các khu ngoại ô ở Luân- đôn vào cuối thế kỉ thứ XIX. Mười sáu bức tranh nữa cũng đă góp mặt trong buổi giới thiệu đầy đủ của Jonathan. Mặc dù vẫn chưa biết chính xác thời ḱ ra đời, nhưng chủ đề trong tranh khiến người ta nghĩ đến thời trai trẻ của họa sĩ tại nước Nga. Sáu bức trong số đó do chính Sa hoàng đặt hàng, tái hiện chân dung của những nhân vật quyền cao chức trọng của triều đ́nh, và mười bức khác được vẽ theo cảm hứng về đời sống khổ cực của nhân dân. Những khung cảnh đường phố ấy chính là nguyên nhân khiến Radskin bị trục xuất vĩnh viễn và buộc phải vội vă rời khỏi quê hương mà không bao giờ c̣n được quay trở lại. Đó là khi Sa hoàng cho phép ông được trưng bày các tác phẩm trong gian triển lăm riêng của Người tại cung điện Ermitage ở Saint- Péterbourg, Vladimir đă cho treo một vài bức tranh trong số đó và đă gây ầm ĩ. Sa hoàng thoắt chuyển sang căm giận ông ghê gớm v́ đă cả gan vẽ lại những nỗi thống khổ của dân chúng c̣n sống động hơn cả việc ca ngợi sự ưu việt của triều đại. Lịch sử kể lại rằng khi quan tham nghị văn hóa trong triều hỏi ông v́ sao làm như vậy, Vladimir đă trả lời rằng nếu con người muốn thống trị bằng cách nuôi dưỡng những điều dối trá, th́ tranh của ông tuân theo nguyên tắc hoàn toàn trái ngược.
Nghệ thuật, trong những thời khắc yếu đuối nhất, cũng chỉ có thể đẹp hơn mà thôi. Phải chăng sự cùng quẫn của người dân Nga không đáng được miêu tả như chính bản thân Sa hoàng? Ngài cố vấn, một người rất coi trọng Vladimir, đă chào từ biệt ông bằng một cử chỉ cay đắng. Ông ta hé cánh cửa bí mật trong gian thư viện khổng lồ chất đầy bản chép tay quư giá và giục chàng trai trẻ chạy trốn thật nhanh trước khi mật vụ tới t́m anh. Từ nay trở đi, ông sẽ không c̣n giúp ǵ được cho anh nữa. Xuống hết chiếc cầu thang xoắn, Vladimir đi theo một hành lang dài tối tăm, giống như một lối ṃn dẫn tới địa ngục. Đôi tay lần ṃ trong bóng tối theo các vách tường thô ráp, anh tiến dần về phía tây của cung điện, khom ḿnh đi dưới những đường hầm hoặc những hang đá ẩm ướt. Những con chuột già xlavơ chạy lang thang ngược chiều thỉnh thoảng sượt qua mặt anh, rồi tỏ ra quan tâm tới kẻ đột nhập này đến mức quay lại chạy theo cắn vào chân anh.
Cho tới khi đêm xuống, Vladimir ngoi lên mặt đất và t́m thấy chỗ trốn trên sàn một chiếc xe ngựa, náu ḿnh trong đống rơm cũ đă bị đám ngựa của Sa hoàng xéo nát. Anh ẩn ḿnh trong đó chờ trời sáng và chạy trốn khỏi cung điện khi ban mai vừa rạng.
Tất cả các tác phẩm của Vladimir đă bị tịch thu ngay chiều hôm ấy. Chúng cháy bùng lên trong cái ḷ sưởi khổng lồ của một bữa tiệc lớn do ngài cố vấn của Sa hoàng tổ chức. Buổi tiệc kéo dài bốn giờ đồng hồ.
Tới nửa đêm, mọi khách mời vội xúm lại bên cửa sổ để thưởng thức một buổi tŕnh diễn ở phía trong cung điện. Nép ḿnh trong hốc tường, Vladimir chứng kiến vụ ám sát. Vợ anh - Clara, bị bắt ngay trong buổi tối, và bị hai tên lính gác kéo tới nơi hành h́nh. Ngay từ khi ra đến sân, mắt nàng đă không rời các v́ tinh tú. Mười hai họng súng giương lên. Vladimir cầu trời để đôi mắt nàng quay lại nh́n anh lần cuối cùng. Nhưng nàng không làm như thế, nàng hít một hơi thật sâu, mười hai họng súng cùng phun lửa. Đôi chân khuỵu xuống và cơ thể bị xé nát của nàng ngă vật xuống nền tuyết dày vấy máu. Tiếng vọng t́nh yêu của nàng vượt qua những bờ tường vây lan xa, và sự im lặng lại bao trùm không gian. Trong sự soi sáng của nỗi đau đang bóp nghẹt tim anh, Vladimir phát hiện ra sự sống c̣n mănh liệt hơn cả nghệ thuật của anh. Sự tương hợp hoàn hảo của tất cả các màu sắc trên đời này cũng không thể miêu tả được nỗi đau của anh. Đêm đó trong tâm trí anh, rượu vang chảy tràn trên các bàn tiệc chẳng khác nào ḍng máu chảy ra từ cơ thể không sự sống của Clara. Từng ḍng máu đỏ như son loang trên chiếc áo khoác màu trắng, vẽ thành những vệt ngoằn ngoèo trên nền gạch trơ trụi như khắc trong trái tim chàng họa sĩ những vết rạn đen ng̣m. Vladimir đă mang trong tâm trí một trong những tác phẩm đẹp nhất mà ông thực hiện tại Luân- đôn mười năm sau đó. Trong thời gian sống tha hương, ông đă tái hiện lại quăng đời bị hủy hoại của ḿnh tại nước Nga với phong cách thay đổi, bởi không bao giờ Vladimir c̣n vẽ thân thể hay khuôn mặt phụ nữ, cũng nư không bao giờ c̣n thấy trên tranh của ông xuất hiện bất kỳ một chấm đỏ nào nữa.
H́nh ảnh minh họa cuối cùng biến mất khỏi màn h́nh. Jonathan cảm ơn cử tọa đă hưởng ứng buổi hội thảo của anh với sự hoan hô nhiệt liệt. Những tràng pháo tay như đè lên đôi vai anh như những gánh nặng làm trăn trở cả tính kín đáo của anh. Anh cúi gập người, vuốt ve tấm b́a bọc tập tài liệu, ngón tay mân mê theo những nét chữ viết tên Vladimir Radskin. "Họ đang tung hô ông đấy, ông bạn già ah", anh th́ thầm. Đôi má bừng đỏ, anh cầm lấy cặp và vẫy tay chào cử tọa lần cuối một cách vụng về. Trong khan phong, một người đàn ông đứng lên và ra hiệu cho anh, Jonathan ôm chặt chiếc cặp vào ngực và lại quay người về phía cử tọa. Người đàn ông tự giới thiệu bằng dọng rơ ràng và dơng dạc.
- Frantz Jarvitch, của tạp chí Nghệ thuật và Tin tức. Thưa ông Gardner, ông có thấy việc không một bức tranh nào của Vladimir Radskin được trưng bày trông một bảo tàng lớn là một điều b́nh thường không? Ông có nghĩ rằng những người phụ trách bảo tàng đă không nhận ra tài năng của ông ấy?
Jonathan tiến sát lại micro để trả lời người vừa đặt câu hỏi cho anh.
- Tôi đă dành phần lớn cuộc đời nghiên cứu của ḿnh để giới thiệu về ông và làm cho các tác phẩm của ông được công nhận. Radskin là một họa sĩ vĩ đại, song cũng như một số khác, ông đă bị thời đại của ḿnh lăng quên. Ông chưa bao giờ t́m cách lấy ḷng ai, sự chân thật là tâm điểm trong tác phẩm của ông. Vladimir đă cố gắng vẽ nên niềm hi vọng và quan tâm đến những ǵ chân thực nhất của con người. Điều này đă khiến ông không chiếm được cảm t́nh của giới phê b́nh.
Jonathan ngẩng đầu lên. Ánh mắt của anh chợt như nh́n vào xa xăm, bị cuốn hút bởi một thời đại khác, một không gian khác. Anh thoát khỏi sự lúng túng, và những lời nói tuôn chảy như thể người họa sỹ già đă nhập vào anh để lên tiếng tự bảo vệ ḿnh.
- Hăy nh́n những khuôn mặt mà ông đă vẽ, những luồng sáng mà ông tạo nên, cũng như vẻ độ lượng và vẻ hổ thẹn của các nhân vật trong tranh ông. Không hề có bất cứ một bàn tay nào nắm lại, không một anh nh́n dối trá.
Gian pḥng ch́m trong im lặng, một người phụ nữ đứng lên.
- Sylvie Leroy, gian Tekné của bảo tàng Louvre. Truyền thuyết kể lại rằng chưa một ai từng được nh́n thấy tác phẩm cuối cùng của Vladimir Radskin, một bức tranh cho đến nay vẫn chưa được t́m thấy. Ông nghĩ thế nào về điều này?
- Đó không phải là truyền thuyết, thưa bà. Trong một lá thư gửi tới Alexis Savrassov, Radskin viết rằng mặc dù đang bị căn bệnh hành hạ khiến ông ngày một yếu dần, ông vẫn đang thực hiện một tác phẩm mà ông cho là đẹp nhất trong đời ông. Khi Savrassov hồi đáp để hỏi thăm sức khỏe và hỏi ông đang ở gian đoạn nào của công việc, Vladimir trả lời: "Hoàn chỉnh bức tranh này là liều thuốc duy nhất chống lại nỗi đau ghê gớm đang cào xé ruột gan tôi". Vladimir Radskin qua đời sau khi đă hoàn thành bức tranh cuối cùng. Bức tranh này đă biến mất một cách bí ẩn trong một buổi đấu giá danh tiếng đượctổ chức ở Luân- đôn năm 1868, một năm sau khi họa sỹ qua đời.
Jonathan giải thích rằng bức tranh đó, có thể là một tác phẩm lớn, đă được rút khỏi buổi bán đấu giá vào phút cuối v́ một số lư do mà chính bản thân anh cũng không được biết, toàn bộ tranh của Vladimir Radskin đă không t́m được người mua trong suốt ngày hôm áy. Họa sỹ đă bị lăng quên trong một thời gian dài. Đó là một sự bất công làm buồn ḷng Jonathan cũng như bất cứ ai coi người họa sỹ này là một trong những nghệ sỹ lớn nhất của thế kỉ mà ông đă sống.
- Sự giàu có của một trái tim nghệ sĩ luôn khêu lên ḷng ghen tị hoặc sự khinh miệt của những người cùng thời. Một số chỉ nhận thấy vẻ đẹp trong những ǵ đă chết. Nhưng ngày nay, thời gian chẳng c̣n tác động ǵ tới Vladimir Radskin nữa. Nghệ thuật nảy sinh từ xúc cảm, đó là điều khiến nó trở nên vĩnh hằng, bất tử. Tuy nhiên, phần lớn các tác phẩm của ông hiện được trưng bày trong các bảo tàng nhỏ hoặc nằm trong một vài bộ sưu tập tư nhân lớn.
- Người ta kể rằng trong tác phẩm cuối cùng, h́nh như Radskin đă vi phạm quy tắc của ḿnh và dường như đă sáng tạo ra một màu đỏ đặc biệt? Một người khác lại hỏi.
Cả gian pḥng như chờ đợi câu trả lời của Jonathan. Anh chắp tay sau lưng, nheo mắt và ngẩng đầu lên
- Như tôi đă nói với các vị, bức tranh này đă đọt ngột biến mất, trước khi được ra mắt công chúng. Và cho tới nay, không hề để lại bất cứ một dấu vết nào. Bản thân tôi cũng t́m kiếm mọi bóng dáng của nó kể từ khi bước vào nghề. Chỉ duy nhất các bức thư mà Vladimir Radskin trao đổi với đồng sự Savrassov và một vài bài báo thời ḱ đó chứng tỏ nó đă từng tồn tại. Cần thận trọng mà đáp rằng mọt khẳng định khác về nội dung cũng như cấu tạo của nó đều là truyền thuyết. Xin cảm ơn quư vị.
Jonathan lại đón nhận một tràng vỗ tay nữa rồi bước vội về cuối khán pḥng, lui vào hậu trường. Peter đang chờ anh, ôm lấy vai anh và chúc mừng.
Vào cuối buổi chiều, các pḥng hội thảo của Trung tâm hội nghị Miami đă văn bóng bốn ngàn sáu trăm khách cùng đến trong ngày hôm đó. Làn sóng người đă chia thành từng ḍng nhỏ chảy vào vô số quán bar và tiệm ăn trong khu phố. Với diện tích ba mươi ngàn piê(1) vuông, khu Jame L.Knight Center được nối bằng một lối đi dạo ngoài trời tới khách sạn Hyatt Regency với hơn sáu trăm pḥng.
Một tiếng đồng hồ đă trôi qua kể từ khi buổi hội thảo của Jonathan kết thúc. Peter kè kè điện thoại di động c̣n Jonathan th́ chiếm chiếc ghế cao của quầy bar. Anh gọi một ly Bloody Mary và cởi nút cổ áo sơ mi. Trong một góc pḥng được chiếu bởi thứ ánh sáng màu đồng, một nghệ sĩ dương cầm già nua đang rải vào không gian bằng một khúc nhạc của Charlie Haden. Jonathan nh́n người đang đệm vĩ hồ cầm. Anh ta ôm chặt cây đàn vào ḷng, khẽ th́ thầm với nó từng nốt nhạc mà anh ta đang chơi. Rất ít người chú ư tới họ. Dù rằng họ chơi thật tuyệt. Nh́n họ, người ta có thể dễ dàng đoán ra họ đă đồng hành qua một chặng đường dài. Jonathan đứng dậy đặt một tờ mười đô la vào chiếc ly có chân để trên chiếc dương cầm Steinway. Để cảm ơn, nhạc công chơi contrabass gảy một tiếng khô khốc lên các dây đàn. Khi Jonathan quay trở lại quầy bar, tờ bạc đă biến mất mà khúc ḥa song tấu vẫn trôi chảy không một nốt nhạc nào bị lỡ. Một người đàn bà đă ngồi vào chiếc ghế cao cạnh chỗ Jonathan. Họ nhă nhặn chào nhau. Mái tóc màu bạch kim của bà khiến anh nghĩ ngay đến mẹ ḿnh. Có quăng đời mà kư ức của chúng ta lưu giữ về cha mẹ ḿnh không thay đổi, như thể t́nh yêu tước đoạt của chúng ta kư ức về tuổi già của họ.
Người đàn bà nh́n vào vạt áo vét của Jonathan nơi cài chiếc thẻ anh quên chưa gỡ ra, nhờ đó bà ta biết tên anh cũng như việc anh là một chuyên gia thẩm định tranh có hạng.
- Giai đoạn nào vậy? Bà ta hỏi thay cho câu chào.
- Thế kỉ thứ XIX, anh trả lời và cầm ly lên.
- Một giai đoạn tuyệt vời, người đàn bà tiếp lời và nhấp một ngụm rượu buốc-bông mà người phục vụ vừa rót đầy ly. Tôi đă dành phần lớn những nghiên cứu của ḿnh cho giai đoạn này.
Bị kích thích bởi trí ṭ ṃ, tới lượt Jonathan cúi người để xem chiếc thẻ bà đeo trên cổ. Người ta có thể thấy trên đó có tên hội nghị chuyên đề về các khoa học thần bí mà bà tham dự. Jonathan để lộ sự ngạc nhiên của ḿnh bằng một cái lắc đầu nhè nhẹ.
- Anh không thuộc loại người làm ǵ cũng chăm chăm vào lá số tử vi, số má của ḿnh phải không nào? Người đàn bà hỏi anh.
Bà hớp một ngụm nữa và nói thêm:
- Nói để anh yên tâm, tôi cũng không!
Bà quay người trên chiếc ghế và ch́a bàn tay về phía anh, ngón áp út đeo chiếc nhẫn nạm một viên kim cương lớn.
- Chiếc nhẫn này được chế tác theo kiểu cổ, bà nói tiếp, nó gây ấn tượng hơn trọng lượng thực của nó tính bằng ca-ra. Nhưng đây là một viên đá gia truyền, và tôi đặc biệt yêu nó. Tôi là giáo sư, tôi phụ trách một pḥng thí nghiệm tại trường đại học Yale.
- Bà nghiên cứu về đề tài ǵ?
- Về một hội chứng.
- Một căn bệnh mới ư?
Đôi mắt ánh lên sự ranh mănh, bà trấn an anh.
- Hội chứng "đă từng gặp"!
Đă lâu nay, chủ đề này thu hút trí ṭ ṃ của Jonathan. Cái cảm giác đă từng trải nghiệm những ǵ đang đến với ḿnh không hề lạ lẫm.
- Tôi nghe nói chính năo bộ của chúng ta có thể lường trước được sự kiện sẽ xảy ra.
- Ngược lại, đó chính là sự biểu đạt của tiềm thức.
- Nhưng nếu chúng ta chưa từng trải qua sự kiện đó, th́ làm sao chúng ta có thể nhớ về chúng được?
- Ai bảo anh biết rằng anh chưa từng trải qua?
Bà bắt đầu nói chuyện với anh về cuộc sống trong tiền kiếp và Jonathan tỏ vẻ gần như giễu cợt. Người đàn bà hơi lùi lại và nh́n anh ḍ xét.
- Anh có cái nh́n thật hay. Anh có hút thuốc không?
- Không.
- Tôi cũng đoán thế, mùi thuốc có làm anh khó chịu không? Bà ta hỏi và rút từ trong túi ra một bao thuốc.
- Cũng không luôn, Jonathan trả lời.
Anh với lấy một bao diêm đặt trên quầy, quệt một que và đưa về phía bà ta. Điếu thuốc bắt lửa. Ngọn lửa cũng vụt tắt.
- Bà có dạy học không? Anh hỏi.
- Thỉnh thoảng tôi cũng có một giảng đường đông nghẹt. Nếu anh không tin vào cuộc sống trong kiếp trước, th́ sao lại đưa ḿnh vào thế kỷ XIX?
Jonathan bị chạm tự ái, anh suy nghĩ một lúc rồi nghiêng sang bà ta.
- Tôi có mối liên hệ gần như đam mê với một họa sỹ thời đó.
Bà ta cắn vụn một viên đá đang ngậm trong miệng và đưa mắt nh́n về phía cái giá chất đầy rượu.
- Người ta quan tâm tới những kiếp trước bằng cách nào vậy? Jonathan hỏi tiếp.
- Bằng cách nh́n vào đồng hồ và cảm thấy không hài ḷng với những ǵ được ghi trên đó.
- Chính thế, đây là một quan điểm mà tôi đă thử t́m mọi cách để giải thích cho người bạn thân nhất của tôi hiểu. Ngoài ra, tôi cũng chẳng đeo đồng hồ bao giờ!
Người đàn bà nh́n anh chăm chú và Jonathan cảm thấy mất tự nhiên.
- Xin bà thứ lỗi, Jonathan lại nói, tôi không hề có ư chế nhạo bà.
- Thật hiếm thấy một người đàn ông xin lỗi. Chính xác anh làm ǵ trong lĩnh vực hội họa?
Mẩu tàn thuốc cong trĩu sắp rụng xuống quầy bar. Jonathan đẩy chiếc gạt tàn hứng phía dưới ngón tay trỏ vàng khè của người đang nói chuyện với anh.
- Tôi chuyên về thẩm định.
- Vậy là nghề nghiệp buộc anh đi nhiều nơi.
- Quá nhiều.
Người đàn bà có mái tóc màu bạch kim mân mê mặt kính chiếc đồng hồ đeo tay.
- Thời gian cũng chu du đây đó. Nó chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác. Chỉ trong đất nước này thôi đă có đến bốn múi giờ khác nhau rồi.
- Tôi không thể chịu nổi những sự lệch giờ này nữa, cái dạ dày của tôi cũng vậy. Có những tuần tôi dùng bữa sáng vào giờ ăn tối.
- Nhận thức của chúng ta về thời gian bị lệch lạc. Thời gian là một chiều không gian chứa đầy những hạt năng lượng. Mỗi loài vật, mỗi con người, mỗi nguyên tử xuyên qua chiều không gian này bằng cách khác nhau. Có thể một ngày nào đó tôi sẽ chứng minh rằng chính thời gian mới chứa đựng vũ trụ chứ không phải ngược lại.
Đă khá lâu rồi Jonathan không gặp một người đam mê một vấn đề đến độ anh hoàn toàn bị hút vào cuộc tṛ chuyện. Người đàn bà tiếp tục chủ đề của ḿnh.
- Chúng ta cũng từng tin rằng trái đất bằng phẳng và mặt trời quay quanh chúng ta. Đa số con người chỉ tự hài ḷng tin vào những ǵ ḿnh nh́n thấy. Một ngày nào đó chúng ta sẽ hiểu ra rằng thời gian luôn vận động, nó cũng quay như trái đất và không ngừng giăn nở.
Jonathan trở nên bối rối. Để che giấu điều đó, anh lục túi áo vét của ḿnh. Người đàn bà tóc trắng ghé sát mặt anh.
- Cho đến khi chúng ta chấp nhận xét lại vấn đề những lư thuyết tự ḿnh phát minh ra, chúng ta sẽ hiểu thêm rất nhiều điều về độ dài tương đối và thực chất của một kiếp sống.
- Đó là điều bà giảng trên lớp phải không? Jonathan hỏi và hơi lùi lại.
- Trông mặt anh ḱa! Anh có h́nh dung nổi nét mặt những sinh viên của tôi nếu hôm nay tôi tiết lộ với họ thành quả nghiên cứu của tôi không? Chúng ta c̣n quá sợ hăi, chúng ta vẫn chưa sẵn sàng. Và cũng ngu muội như chính tổ tiên chúng ta, chúng ta quy tất cả những ǵ vượt tầm hoặc gây nhiễu hiểu biết của chúng ta thành siêu linh hoặc bí hiểm. Chúng ta là một sinh vật say mê t́m hiểu nhưng lại sợ khám phá. Chúng ta trả lời nỗi sợ hăi của ḿnh bằng các đức tin, cũng hơi giống như các thủy thủ thời xưa từ chối ư tưởng đi du lịch và tin chắc rằng nếu rời xa điều họ nằm ḷng th́ thế giới sẽ rơi vào một vực sâu không đáy.
- Nghề của tôi cũng có những khía cạnh khoa học của nó. Thời gian làm phai nhạt màu sắc trong tranh và khiến cho nhiều thứ không thể thấy được bằng mắt thường. Bà không thể h́nh dung được những điều ḱ diệu mà chúng tôi đă khám phá ra trong quá tŕnh phục chế một bức tranh đâu.
Người đàn bà chợt túm lấy cánh tay anh. Bà nh́n anh chằm chằm. Hai đồng tử màu nước biển của bà chợt như lóe sáng.
- Ông Gardner, ông vẫn chưa nắm bắt được tầm vóc của vấn đề. Nhưng tôi không muốn quấy rầy ông bằng hàng mớ lời lẽ. Tôi cứ thao thao bất tuyệt mối khi đề cập đến vấn đề này.
Jonathan ra hiệu cho người phục vụ quầy tiếp thêm rượu cho bà. Dưới bóng tối của đôi mí nặng trĩu, ánh mắt bà dơi theo cứ chỉ của người phục vụ. Bà nh́n chăm chú theo thứ nước màu hổ phách đang song sánh dọc thành chai bằng pha lê. Bà lắc lắc những viên đá trong chiếc ly và uống cạn một hơi. Rồi dường như thấy Jonathan đang chờ nghe tiếp, bà tiếp tục:
- Chúng ta vẫn c̣n chờ đợi các nhà thám hiểm mới của chúng ta, những vị khách qua đường của thời gian. Một nhúm Magellan, Copernic, Galilee mới thôi là đủ. Mọi người sẽ coi họ là kẻ dị giáo, sẽ cười nhạo họ nhưng chính họ là những người mở những con đường của vũ trụ, chính họ sẽ làm hiện diện linh hồn của chúng ta.
- Đó quả là một đề tài đặc biệt đối với một nhà khoa học, khoa học và tâm linh dường như không mấy khi ḥa hợp được với nhau!
- Hăy dẹp những thứ chung chung ấy đi! Long tin là một vấn đề tôn giáo, tâm linh phát sinh từ ư thức của chúng ta cho dù chúng ta có là ai hoặc có tưởng ḿnh là ai.
- Bà thật sự tin rằng sau khi chúng ta chết, linh hông khiến chung ta tiếp tục tồn tại?
- Không phải bất cứ cái ǵ mắt thường không nh́n thấy là không tồn tại.
Bà ta đă nói về linh hồn, Jonathan nghĩ về linh hồn của một họa sỹ già người Nga đă sống trong anh kể tự một ngày chủ nhật trời mưa, khi bố anh đưa anh đi thăm bảo tàng. Trong căn pḥng rộng với trần cao mênh mông, một bức tranh của Vladimir Radskin đă hút hồn anh. Xúc cảm từ bức tranh đó đă mở rỗng những cánh cửa thời niên thiếu và vĩnh viễn dẫn dắt cuộc đời anh.
Người đàn bà nh́n anh chăm chú, đôi mắt màu xanh của bà ngả sang đen. Jonathan cảm giác như bà đang đánh giá anh. Bà quay sang nh́n ly rượu của ḿnh.
- Những ǵ không phản chiếu được ánh sáng đều trong suốt, bà nói bằng giọng khàn khàn, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng không tồn tại và chúng ta cũng không thể nh́n thấy sự sống khi nó rời khỏi cơ thể của chúng ta.
- Tôi phải thú thật với bà rằng nhiều khi tôi c̣n chẳng nh́n thấy nó trong cơ thể một số người đang sống như chúng ta.
Người đàn bà mỉm cười và yên lặng.
- Nhưng rồi ai cũng phải chết thôi, Jonathan nói tiếp, vẻ hơi ngượng nghịu.
- Mỗi người trong chúng ta tồn tại và phá bỏ sự tồn tại ấy và tự "rút lui" theo một nhịp riêng. Chúng ta không già đi theo thời gian, mà theo cách năng lượng chúng ta tiêu thụ và tái tạo để có thể tiếp tục.
- Bà cho rằng chúng ta hoạt động nhờ vào một kiểu ắc- quy mà chúng ta sử dụng rồi lại nạp đầy chẳng?
- Đúng, gần như vậy.
Nếu như chiếc thẻ đeo trên người không chứng nhận tư cách khoa học của người đàn bà này, Jonathan đă cho rằng anh tiếp xúc với một trong những kẻ lạc loài cô độc vẫn thường chầu chực ở các quán bar t́m người để trút bầu tâm sự điên rồ của họ. Lúng túng, anh ra hiệu cho người phục vụ tiếp rượu cho bà. Bà lắc đầu từ chối lời mời. Người phục vụ đặt chai rượu buốc-bông xuống mặt quầy bar.
- Bà nghĩ rằng linh hồn có thể sống lại nhiều lần ư? Jonathan hỏi tiếp và kéo chiếc ghế lại gần.
- Một số thôi, đúng vậy.
- Khi tôi c̣n nhỏ, bà tôi kể rằng các v́ sao là linh hồn của những người đă lên trời.
- Ánh sáng của những ngôi sao không cần đến thời gian để tới với chúng ta, chính thời gian đă dẫn đường cho nó. Cần phải hiểu bản chất của thời gian là ǵ, đó là phương tiện cho một chuyến du lịch trong chiều của thời gian. Thân xác của chúng ta bị giới hạn bởi những sức mạnh vật lư đối kháng với chúng, nhưng linh hồn của chúng ta có thể vượt qua được.
- Thật tuyệt vời khi h́nh dung rằng chúng sẽ không bao giờ chết. Tôi biết linh hồn của một họa sỹ …
- Đừng quá lạc quan, đa số các linh hồn sẽ kết thúc bằng cách tắt lịm. Chúng ta th́ già đi c̣n linh hồn, chúng thay đổi kích cỡ, theo tŕnh tự mà chúng ghi nhớ.
- Chúng ghi nhớ lại ǵ?
- Chuyến du hành của chúng trong vũ trụ! Ánh sáng mà chúng hấp thụ được! Các tế bào của sự sống! Đó là thông điệp mà chúng mang theo, từ lúc c̣n vô cùng bé cho đến khi trở thành vô cùng lớn, cũng là điều mọi linh hồn đều mơ ước đạt được. Chúng ta sống trên một hành tinh mà rất ít người trong số chúng ta đă đi hết một ṿng đời của ḿnh, và cũng rất ít linh hồn đạt được mục đích của chuyến du hành: đi hết ṿng tṛn của tạo hóa. Linh hồn là những sóng điện. Chúng được h́nh thành bởi hàng triệu hạt li ti, giống như tất cả những ǵ đă làm nên vũ trụ của chúng ta. Giống như v́ sao của bà cậu, linh hồn cũng sợ sự tan ră của chính nó, tất cả đối với nó chỉ là vấn đề năng lượng. Chính v́ lư do ấy mà nó cần có một thân thể trên mặt đất, nó vây bọc lấy cơ thể ấy, tự tái tạo trong cơ thể và tiếp tục cuộc hành tŕnh trong chiều thời gian. Khi cơ thể không c̣n đủ năng lượng nữa, nó liền rời bỏ và t́m đến một nguồn sống mới cho phép tiếp tục chuyến du lịch của ḿnh.
- Và nó sẽ t́m kiếm trong bao lâu?
- Một ngày, hay một thế kỷ? Điều này tùy thuộc vào sức mạnh và nguồn năng lượng mà nó tái tạo nên trong cuộc sống.
- Thế nếu thiếu th́ sao?
- Nó sẽ tắt!
- Thế năng lượng mà bà nói đến là ǵ?
- Nguồn gốc của cuộc sống: t́nh cảm!
Peter làm Jonathan giật ḿnh khi đột ngột đặt tay lên vai anh.
- Rất xin lối v́ cắt nganh, anh bạn ạ, nhưng họ sẽ không giữ chỗ cho chúng ta đầu. Để có thể t́m được một bàn khác, sẽ là cả một nỗi phiền toái, nơi này lúc nhúc toàn những kẻ quê mùa đói lả.
Jonathan hứa lát nữa sẽ đến nhà hàng t́m Peter. Peter chào người đànbà rồi ra khỏi quán bar, vừa đi vừa ngước mắt nh́n trời.
- Ông Gadner, người đàn bà lại nói, tôi không hề tin vào sự ngẫu nhiên.
- Sự ngẫu nhiên th́ có liên quan ǵ ở đây?
- Tầm quan trọng quá mức mà chúng ta danhfcho nó thật đáng sợ. Trong tất cả những ǵ tôi vừa nói với ông, chỉ nên nhớ một điều duy nhất. Có khi hai linh hồn gặp nhau chỉ để hợp lại thành một. Chúng sẽ phụ thuộc vào nhau măi măi. Chúng không thể tách rời nhau và sẽ liên tục t́m kiếm nhau từ kiếp này sang kiếp khác. Nếu như trong một quá tŕnh tồn tại trên mặt đất, một nửa bị tách rời khỏi nửa kia, phá bỏ lời thề đă gắn kết chúng, cả hai linh hồn sẽ cùng tắt ngay lập tức. Linh hồn này sẽ không thể tiếp tục chuyến du hành mà không có linh hồn kia.
Khuôn mặt người đàn bà đột nhiên biến đổi, các nét thoắt đanh lại, đôi mắt trở lại màu xanh nước biển sâu thẳm. Bà đứng lên và nắm lấy cổ tây Jonathan. Bà siết chặt lấy nó bằng tất cả sức lực của ḿnh. Giọng bà càng trở nên nặng nề hơn.
- Ông Gadner, vào lúc này, có điều ǵ đó đă khiến ông đoán tôi không phải là một bà già mất hết lư trí. Hăy thật chú ư tới điều tôi sắp nói với ông đây: đừng bỏ cuộc! Cô ấy đă trở lại, cô ấy đang ở đây. Ở đâu đó trên trái đất này, cô ấy đang chờ đợi ông, t́m kiếm ông. Từ giờ trở đi thời gian của hai người đều đang trôi dần. Nếu như một trong hai người chối bỏ người kia, điều đó c̣n tồi tệ hơn cả đánh mát cuộc sống, điều đó có nghĩa là cả hai người sẽ đánh mất linh hồn. Chặng cuối của chuyến du hành sẽ vô cùng uổng phí v́ hai người đă tiến gần đến đích. Khi hai người nhận nhau, đừng bỏ qua nhau.
Peter vừa quay trở lại, tóm lấy cánh tay Jonathan, buộc anh phải quay nửa ṿng trên ghế.
- Họ không muốn giao bàn cho tớ khi chúng ta "chưa đến đủ"! Tớ vừa phải thương lượng ba phút liên tục với người quản lư khách sạn để anh ta để tên chúng ta lại trong danh sách chờ. Cậu khẩn trương lên, có một miếng sườn tái sắp không thể rỉ máu được nữa rồi đây.
Jonathan giật mạnh để thoát khỏi tay người bạn, nhưng khi anh quay lại, người đàn bà tóc trắng đă biến mất. Tim anh bắt đầu đập dồn, anh chạy vội ra hành lang. Song ḍng người đă nuốt chửng mọi hy vọng có thể t́m lại bà ta.
Người quản lư khách sạn xếp cho họ ngồi vào một khoang ở trong góc nhà hàng. Thả người xuống chiếc ghế bọc vải giả da màu đỏ, Jonathan vẫn không thể tự giải thoát khỏi sự căng thẳng đang xâm chiếm người anh. Thức ăn trong đĩa anh vẫn chưa hề đụng tới.
- Cậu thật là lạ, Peter vừa nói vừa nhai ngon lành.
- Tớ làm ǵ ?
- Cậu không ngừng nới nút cà- vạt.
- Th́ sao ?
- Cậu không đeo cà- vạt.
Jonathan nhận thấy tay phải ḿnh run rẩy, anh giấu tay xuống dưới bàn và nh́n Peter chăm chú.
- Cậu có tin vào số phận không ?
- Nếu cậu muốn biết, th́ miếng sườn này sẽ chẳng thể nào thoát khỏi số phận của nó được.
- Tớ đang nói chuyện nghiêm túc với cậu đấy !
- Thật sao ?
Peter cắm dĩa vào một miếng khoai tây rồi rưới thật nhiều xốt vào đĩa.
- Có một chuyến bay lúc mười giờ tối : nếu cậu đi ngay lúc này, cậu có thể bắt kịp chuyến bay đó, Peter tiếp tục nói, mắt vẫn nh́n vào một miếng thịt to tướng nằm ở đầu dĩa. Vẻ mặt cậu trông thật tệ.
Jonathan vẫn không hề đụng vào thức ăn trong đĩa của ḿnh, với tay xé một mẫu bánh ḿ nằm trong chiếc giỏ nhỏ đặt giữa hai người. Anh bóp vụn ruột bánh ḿ c̣n đang ấm. Trong lồng ngực, tim anh vẫn đập như gơ trống.
- Tớ sẽ thanh toán tiền khách sạn, đi nhanh đi !
Anh chợt cảm thấy tiếng nói của Peter như vang lên từ rất xa.
- Tớ thấy không được khoẻ lắm, Jonathan vừa nói vừa t́m mọi cách để lấy lại b́nh tĩnh.
- Cậu lấy quách cô ấy cho xong đi, cậu bắt đầu làm tớ mệt mỏi v́ cái cô Anna ấy rồi đấy.
- Cậu không muốn về tối nay với tớ hả ?
Tức thời, Peter chưa hiểu ra lời cầu cứu của người bạn. Anh tự rót cho ḿnh thêm một ly rượu vang.
- Tớ muốn tận dụng buổi tối hôm nay để nói với cậu về những vấn đề mà tớ đang phải giải quyết ở văn pḥng, tớ muốn cùng cậu suy nghĩ cách nào đó để trả đũa lại những bài báo đang thả sức tấn công tớ. Tớ cũng muốn cậu nghiền ngẫm những ǵ tớ sẽ đưa ra trong các buổi bán đấu giá sắp tới, nhưng tớ sẽ phải ngồi ăn tối với cái miếng sườn này, thôi th́ cũng tạm đươc. Tớ không thể nhẫn tâm bỏ rơi nó được, làm như vậy sẽ tổn hại ư niệm về những buổi tối vui vẻ mà gă độc thân phải được quyền hưởng thụ.
Jonathan ngập ngừng, rồi đứng lên và chạm tay vào chiếc ví nằm trong túi áo khoác.
- Cậu sẽ không giận tớ chứ ?
Peter chặn tay bạn lại.
- Đừng có lôi thôi. Cậu không thể trả tiền cho một bữa ăn mà cậu không hề tham dự. Tớ sẽ hỏi cậu một câu rất riêng tư, nhưng sẽ chỉ có tớ với cậu được biết câu trả lời thôi nhé ?
- Tất nhiên, Jonathan nói.
Peter thận trọng nh́n miếng thịt vẫn c̣n nguyên trong đĩa của Jonathan.
- Cậu không phản đối nếu tớ " xử lư " nó chứ ?
Rồi trước khi Jonathan kịp trả lời, anh đổi đĩa cho bạn và tiếp.
- Thôi nào, đi đi, và gửi lời chào cô ấy hộ tớ. Ngày mai tớ sẽ gọi điện cho cậu ngay khi về đến nàh. Tớ thật sự cần cậu giúp tớ thu xếp lại mọi việc, dạo này ở văn pḥng lộn xộn quá.
Jonathan đặt tay lên vai bạn bóp nhẹ, anh cảm thấy ḿnh t́m lại được chút cân bằng đă bị mất. Peter ngước đầu quan sát bạn hồi lâu.
- Cậu có chắc là sẽ ổn không ?
- Không sao, tớ chỉ hơi mệt thôi, cậu khỏi cần lo. Những việc kia cậu có thể tin vào tớ
Anh đi nhanh ra cửa. Hàng ngàn ánh đèn trước cửa khách sạn làm anh lóa mắt. Anh dùng tay ra hiệu cho người tiếp tân. Với vẻ choáng váng và vụng về, Jonathan trông giống như một con bạc mệt mỏi v́ vận xúi. Một chiếc taxi tiến vào dưới mái che. Khi chiếc xe vừa nổ máy, anh vội mở cửa sổ để kiếm chút không khí.
- Anh không gặp may phải không ? Người lái taxi chăm chú nh́n anh qua kính chiếu hậu.
Jonathan lắc đầu trấn an ông ta. Anh nhắm mắt và tựa đầu vào lưng ghế. Ánh đèn bên ngoài lấp loáng qua đôi mắt khép hờ tạo thành những vệt sáng khiến anh nhớ tới những miếng b́a mà khi c̣n nhỏ anh thường buộc vào nan hoa xe đạp rồi cho quay. Không khí mát dần. Jonathan mở mắt. Quang cảnh ngoại ô lướt qua ngoài cửa kính. Anh cảm thấy trong người trống rỗng, không c̣n muốn điều ǵ.
- Tôi đă ra khỏi đường cao tốc, có một tai nạn, người lái taxi nói.
Jonathan nh́n thẳng vào ánh mắt ông ta phản chiếu qua tấm gương chiếu hậu.
- Trông anh có vẻ thiếu ngủ, mải vui chơi quá phải không ?
- Không, tôi đă làm việc quá sức !
- Th́ cũng phải có cái ǵ để say mê chứ !
- Khoảng bao lâu nữa chúng ta sẽ tới ? Jonathan hỏi.
- Hy vọng sẽ không lâu lắm. Chặng đường được tính phí trọn gói rồi.
Từ đằng xa, những ánh đèn vàng của khu sân bay bừng lên trong bóng tối. Chiếc taxi đậu dọc vĩa hè trong khu vực dành cho hành khách của hăng Continental Airline. Jonathan thanh toán tiền và rời khỏi chiếc xe Ford màu trắng có những cánh cửa đỏ. Nó đi xa dần.
Tại quầy làm thủ tục, cô tiếp viên cho anh biết vé của bốn ghế hạng nhất đều đă bán hết, c̣n khoang hạng thường th́ gần như c̣n trống. Anh chọn một chỗ ngồi cạnh cửa kính. Vào cái giờ muộn màng này của ban đêm, những ḍng khách du lịch đă thưa dần. Anh nhanh chóng qua cửa kiểm tra và tiến vào dăy hành lang dài bất tận dẫn tới pḥng chờ.
Một chiếc McDonnell Douglas có in biểu tượng của hăng Continental Airline đang đón khách ở cuối hành lang. Đầu chiếc máy bay dường như muốn chạm vào lớp kính ngăn cách dăy hành lang với bên ngoài. Một chú bé đang đứng chờ cùng mẹ đưa tay vẫy các phi công đang ngồi trong khoang máy trên cao. Người cơ trưởng cũng vẫy tay chào chú bé. Một lát sau, một nhóm khoảng chục hành khách đổ ra lối đi và nhanh chóng biến vào bên trong thang. Cô tiếp viên đóng cửa máy bay và ra hiệu để trấn an các hành khách đang chờ tới lượt lên máy bay. Công việc vệ sinh bên trong đang được tiến hành và chẳng mấy chốc sự chờ đợi sẽ kết thúc.
Vài phút sau, chiếc bộ đàm trong tay cô vang lên tiếng rè rè, cô nhận thông điêp được truyền qua bộ đàm rồi cúi người xuống chiếc micro và thông báo bắt đầu tiếp nhận hành khách lên máy bay.
Chiếc máy bay vượt lên trên những tầng mây dày đặc, một luồng ánh sáng màu bạc xé tan màn đêm. Jonathan ngả lưng ghế để t́m kiếm một sự thoải mái và cố t́m cách chợp mắt mà không được. Anh dán mặt vào ô kính và ngắm nh́n những đợt sóng bông đang lướt qua dưới cánh máy bay.
Khi anh về, cả căn nhà vắng lặng, Jonathan bước qua bậc thềm và tiến vào pḥng ngủ. Chăn đệm trên giường vẫn được xếp gọn gàng, có lẽ Anna đang ở tầng trên. Anh tiến về phía pḥng tắm. Dưới ṿi hoa sen, những tia nước mạnh quất vào mặt anh rồi chảy dọc theo thân ḿnh. Anh thả lỏng người một lúc lâu. Rồi anh choàng chiếc áo tắm vào người và lên tầng trên cùng. Anh mở cửa xưởng vẽ. Đèn đă tắt hết. Ánh trăng bên ngoài chiếu qua lớp kính cũng đủ để xua tan bóng đêm. Anna nằm co ro trên một băng ghế. Anh nhẹ nhàng tiến lại gần cô và đứng yên lặng nh́n cô ngủ. Anh quỳ gối và thèm được vuốt má cô. Cô chợt cựa ḿnh trong giấc ngủ và thu người lại. Anh kéo chiếc khăn choàng màu xám phủ trên đôi chân cô lên che kín hai vai rồi quay người đi ra. Anh thả ḿnh vào giữa chiếc giường rộng và cuộn người dưới lớp chăn dày. Nằm nghe tiếng mưa đập vào các khung kính, anh ch́m dần vào giấc ngủ sâu.
Mùa đông phủ trên thành phố Boston những lớp tuyết dày. Thành phố được giăng kín bởi những chùm đèn lấp lánh chuẩn bị cho lễ Noel. Giữa hai chuyến đi xa, Jonathan gặp lại Anna trong ngôi nhà của họ, nơi họ c̣n chuẩn bị khá nhiều việc.
Anna tính toán đến từng chi tiết để chuẩn bị cho đám cưới của họ, từ việc chọn giấy để in thiếp mời, hoa bày tiệc trong nhà thờ, các bài phát biểu trong lễ cưới, chọn món cho buổi tiệc rượu trước bữa tối, sơ đồ bàn tiệc tuân thủ nghiêm ngặt theo những nấc thang thứ bậc phức tạp của xă hội thượng lưu Boston, duyệt buổi diễn thử của dàn nhạc và những bản nhạc họ sẽ chơi trong buổi tối hôm đó. Và Jonathan mặc dù rất muốn âu yếm Anna song cũng bị cuốn theo niềm say mê của cô và buộc phải bắt tay vào chuẩn bị sao cho lễ cưới của họ sẽ trở thành lễ cưới tuyệt vời nhất từ trước tới nay tại thành phố này, đúng như cô hằng ao ước. Tất cả các ngày thứ bảy, họ đi dạo khắp các cửa hàng trưng bày đồ chuẩn bị cho lễ cưới, chủ nhật nào họ cũng chăm chú vào các tập quảng cáo hoặc các mẫu mă sưu tầm được ngày hôm trước. Anh có cảm giác như có những ngày cuối tuần trôi qua, việc lựa chọn khăn trải bàn hoặc những bó hoa bày trên bàn tiệc đă tước đi nhiếu hơn là mang lại cho anh sự hào hứng với lễ cưới. Những tuần trôi qua và sự nhiệt t́nh của anh ngày càng giảm sút
Mùa xuân đến sớm, các nhà hàng quanh khu cảng cũ đă bày bàn ăn ra ngoài trời kéo dài cho tới tận khu chợ không mái che. Anna và Jonathan đă làm việc suốt buổi sáng, và giờ đang ngồi quanh một chiếc đĩa đầy hải sản. Anna rút ra một cuốn sổ gáy xoắn và đặt trước mặt. Jonathan nhướn đôi mày nh́n cô gạch những ḍng chữ ở trang cuối cùng, ḷng thầm hy vọng điều đó báo hiệu công cuộc chuẩn bị kéo dài bấy lâu đă dần tới giai đoạn cuối. Bốn tuần nữa thôi, cũng vào giờ này, hôn lễ của họ sẽ được trịnh trọng cử hành.
- Ba tuần liền được nghỉ trọn vẹn hai ngày cuối tuần sẽ không phải là quá nhiều nếu chúng ta muốn tận hưởng niềm vui trong ngày trọng đại !
- Anh thấy thế là hài hước lắm sao ? Anna vừa nói vừa cắn nhẹ chiếc bút trong tay.
- Anh biết đó là loại bút mà em thích nhất, và em đă phải dùng hết khoảng hai chục chiếc như thế trong những tháng vừa qua, nhưng có lẽ em nên nếm thử món hào này.
- Anh biết đấy, Jonathan, em không có cả cha lẫn mẹ để giúp em tổ chức buổi lễ, và khi em nh́n anh, có những lúc em thật sự có cảm giác như ḿnh sẽ phải cưới một ḿnh !
- Anna, có những lúc anh cảm giác như em đang chuẩn bị đám cưới với những chiếc khăn bàn !
Anna nh́n anh đầy trách móc, cô cầm lấy cuốn sổ, đứng lên và rời khỏi nhà hàng. Jonathan không t́m cách giữ cô lại. Anh chờ cho những áci nh́n ṭ ṃ của các khách hàng xung quanh quay đi trước khi tiếp tục bữa ăn. Anh tận dụng chút tự do cuối buổi chiều để đi dạo qua một siêu thị băng đĩa rồi dừng lại tại một quầy hàng, nơi một chiếc áo len dày màu đen bày trong tủ kính mời gọi anh. Đi lang thang trong những con pbố cổ kính, anh t́m cách gọi di động cho Peter, nhưng toàn gặp phải hộp thư thoại. Anh liền để lại một tin nhắn. Sau đó anh dừng lại trước một quầy hoa và mua một bó hồng đỏ rồi thả bộ về nhà.
Trong bếp, Anna khoác một tấm tạp dề vải nilông ôm khít lấy eo khiến bộ ngực của cô càng trở nên đầy đặn sau cổ áo khoét trễ. Cô chẳng buồn để ư tới bó hoa Jonathan đặt trên bàn. Anh ngồi lên một trong những chiếc ghế tṛn cao. Đôi mắt ngập tràn âu yếm, anh nh́n Anna đang tiếp tục chuẩn bị bữa tối mà không hé một lời. Những cử chỉ dứt khoát của cô cho thấy cô vẫn đang giận anh.
- Anh xin lỗi, anh nói, anh không muốn làm em buồn.
- Không phải chuyện đó ! Em muốn đám cưới này gây ấn tượng với không chỉ riêng chúng ta, em là vợ anh và em có trách nhiệm phải đóng góp vào sự thành công của anh trong sự nghiệp, anh hiểu không ! Em không phải là người cần sự tôn trọng và ngưỡng mộ của giới thượng lưu miền Đông này. Khi treo tranh của anh trong pḥng khách, chủ yếu họ muốn được chiêm ngưỡng sự thành công của anh trên tường nhà họ.
- Em không muốn chúng ta chấm dứt cuộc tranh căi ngu ngốc này ư ? Anh nói. Này, tốt nhất em hăy cho anh biết ai sẽ là người làm chứng của em ; sau chừng ấy thời gian, hẳn em phải có quyết định cuối cùng rồi chứ ?
Anh đứng dậy, đi ṿng qua quầy rượu và định ôm cô. Anna đẩy anh ra.
- Anh phải tạo ra ham muốn, Jonathan ạ, cô tiếp tục, chính v́ như vậy mà em trang điểm, ngay cả khi đi chợ, chính v́ vậy mà ngôi nhà này lúc nào cũng được em chăm chút cẩn thận, và những bữa tối mà chúng ta thưởng thức cũng không ngoại lệ. Cả đất nước này sống nhờ những ham muốn, v́ vậy đừng bao giờ trách móc những đ̣i hỏi của em về sự hoàn hảo, em sẽ là người có những yêu cầu khắt khe đối với anh trong tương lai.
- Nhưng anh không bán tranh, Anna ạ, anh chỉ thẩm định chúng thôi, Jonathan trả lời trong tiếng thở dài. Anh mặc kệ mọi người nghĩ ǵ, và v́ chúng ta sắp làm đám cưới, anh buộc phải nói cho em biết một điều rất quan trọng : anh chẳng hề câu nệ chuyện trang điểm, mỗi buổi sáng nh́n em ngủ, anh cảm thấy em đẹp hơn bội phần so với những lúc em sửa soạn cho một buổi dạ tiệc. Chỉ có vào lúc đó trong ngày, trên giường ngủ, trong sự riêng tư của hai chúng ta, chẳng ánh mắt xa lạ nào có thể quấy rầy ngoài ánh mắt anh nh́n em. Anh muốn thời gian phải là bạn đồng hành của chúng ta, thay v́ ngăn cách hai ta như mấy tuần vừa qua.
Cô đặt chai rượu vang đang mở lên quầy và nh́n anh không chớp mắt. Jonathan ṿng ra sau lưng cô, hai tay anh vuốt nhẹ dọc lưng cô xuống tới hông và dừng lại, những ngón tay khẽ gỡ nút chiếc tạp dề. Anna hơi cưỡng lại, rồi cô để mặc anh.

------------------
Chú thích:
1. Đơn vị đo lường: một piê bằng khoảng 30 cm

Chương 3

Một ngày bắt đầu trong ánh mặt trời lạnh lẽo. Cuộc tranh căi hôm trước đă lắng dần qua một đêm. Jonathan thức dậy và chuẩn bị bữa sáng rồi mang tới cho Anna. Họ cùng ăn và tận hưởng một buổi sáng chủ nhật thật dài. Anna lên xưởng vẽ c̣n Jonathan tiếp tục ngồi thư giăn. Họ bỏ qua bữa trưa và lang thang cả buổi chiều dọc các phố nhỏ trong khu cảng cũ. Đến gần bốn giờ chiều, họ ghé vào một tiệm bán đồ ăn sẵn kiểu Ư và mua thật nhiều thức ăn cho bữa tối, rồi ghé vào cửa hàng cho thuê băng ở góc phố để chọn vài cuốn băng video.
Ở đầu kia thành phố, mái tóc bù xù của Peter ló ra khỏi một đống chăn nệm dày. Ánh sáng ban ngày đă lôi anh ra khỏi giấc ngủ mê mệt. Anh vươn vai rồi rồi liếc về phía chiếc đài có đồng hồ đặt trên bàn ngủ. Giấc ngủ quá trưa anh tự thưởng cho ḿnh đă kéo dài hơn anh tưởng. Peter ngáp dài, quờ tay t́m chiếc điều khiển vô tuyến dưới những nếp gấp của lớp chăn dày. Khi t́m thấy, anh ấn bừa lên một nút. Trước mắt anh, màn h́nh được gắn vào tường bắt đầu bật sáng, anh liền nhấn nút chuyển kênh. H́nh một chiếc phong b́ nhỏ nhấp nháy ở góc dưới màn h́nh báo tin anh có thư điện tử. Anh chọn chế độ đọc thư và bức thư hiện lên. Ngày tháng trong thư cho thấy nó vừa được gửi trong ngày do một người quen của nhà đấu giá Christie s tại Luân- đôn. Bây giờ là ba giờ chiều ở miền Đông nước Mỹ nhưng đă là tám giờ tối tại bên kia bờ đại dương.
- Không phải cả họ cũng đọc báo rồi chứ ! Peter càu nhàu.
Bức thư điện tử được viết bằng phông chữ nhỏ. Peter căm ghét cặp kính lăo mà anh buộc phải đeo từ nhiếu tháng nay. Không muốn chấp nhận ḿnh đang già đi, anh thà tự hành hạ ḿnh bằng những bài tập căn bản trông vào những động tác nhăn mặt mà người ta quảng cáo là sẽ có tác dụng cải thiện thị lực. Những ḍng chữ buộc anh phải căng mắt để đọc. Vừa đọc lại đến lần thứ ba bức thư điện tử của người đồng nghiệp ở Luân- đôn, anh vừa với tay lấy chiếc điện thoại và không cần nh́n vào các nút, anh bấm số rồi nóng ruột chờ chuông reo. Sau mười hồi chuông, anh dập máy rồi bấm lại số. Sau ba lượt, anh cáu kỉnh mở ngăn kéo tủ đầu giường và lấy ra chiếc điện thoại di động. Anh gọi cho tổng đài và đề nghị nối máy với pḥng vé của hăng hàng không British Airways. Anh ngoẹo cổ kẹp lấy điện thoại và đi về phía tủ treo quần áo. Anh phải kiễng chân mới nh́n thấy chiếc va- li để tận ngăn trên cùng rồi với tay chộp lấy chiếc quai kéo mạnh khiến nó trượt về phía anh, kéo theo một mớ túi du lịch rơi thẳng xuống người. Cuối cùng th́ phía đầu dây bên kia cũng có một nhân viên pḥng vé bắt máy, anh vừa càu nhàu vừa xỏ chân vào ống quần.
- Vương miện của Nữ hoàng bị đánh cắp, và toàn bộ nhân viên hăng các anh đều bận truy lùng nên không thể nghe điện của khách hàng phải không ?
Lúc này là sáu giờ tối, bầu trời thoắt sập tối báo hiệu cơn dông đang bao trùm thành phố. Các đám mây dày lên, cuộn lại như những tấm vải bạt quấn chặt lấy nhau, mọng nước đến nỗi như được nhuộm màu xám xịt hoặc đen thẫm. Một vài giọt nước trĩu nặng xuyên qua bức màn mây dày đặc, vẽ trên nền trời âm u những vệt thẳng màu trắng bạc trước khi quất mạnh xuống mặt đường nhựa. Jonathan hạ thấp rèm cửa sổ. Một buổi tối ngồi trước ti- vi quả là thích hợp trong tiết trời u ám này. Anh vào bếp, mở tủ lạnh và lấy ra những hộp đựng các món ăn Ư mà Anna đă chọn. Anh bật ḷ nướng để chuẩn bị hâm lại món cà trộn pho- mát bỏ ḷ, rắc thật nhiều pho- mát parmesen ( một loại pho- mát bào vụn chuyên được dùng để rắc lên hoặc ăn kèm với một số món ăn của Ư ) lên trên rồi bước lại chỗ điện thoại treo tường. Anh đang định bấm số máy xưởng vẽ của Anna th́ ánh đèn báo hiệu có cuộc gọi đến nhấp nháy, rồi chuông điện thoại reo vang.
- Cậu biến đi đâu mất thế ? Đây là lần thứ mười tớ gọi cho cậu rồi đấy!
- Chào cậu, Peter !
- Xếp đồ vào va- li ngay đi, tớ sẽ chờ cậu ở sân bay Logan, pḥng chờ của hăng hàng không British Airways, chuyến bay đi Luân- đôn lúc chín giờ mười lăm phút tối, tớ đă đặt sẵn hai vé cho tớ và cậu rồi.
- Khoan đă, hai giây thôi, giả sử hôm nay không phải là chủ nhật, hiện giờ không phải tớ đang đứng trong bếp chuẩn bị bữa tối cho cô gái sẽ lấy tớ trong bốn tuần nữa, và cũng không định sẽ không cùng cô ấy ngồi xem Thạch tín và những đăng- ten cũ, th́ v́ cớ ǵ tớ phải đi cùng cậu ?
- Tớ rất khoái khi cậu nói chuyện kiểu ấy, tớ có cảm giác như chúng ta đang ở nước Anh rồi, Peter đáp lại bằng giọng châm chọc.
- Thôi nào, anh bạn, tớ rất mừng v́ cậu gọi, và nói theo miệng lưỡi của cậu, giờ th́ tớ đang bận phải đàm đạo với món cà trộn pho- mát bỏ ḷ, v́ thế nếu cậu bỏ quá cho. ..
- Tớ vừa nhận được một mẩu tin từ Luân- đôn, một nhà sưu tầm đang muốn bán năm bức tranh của một danh hoạ bậc thầy, cả năm bức đều của một ông Vladimir Radskin nào đó... Thế món lasagne (một món ăn của Ư rất được ưa chuộng, được làm từ ḿ dẹt trộn xốt cà chua và pho- mát rồi bỏ ḷ nướng) của cậu có ǵ ở trong ?
- Cậu nói nghiêm túc đấy chứ ?
- Nhân thể, tớ sẽ giới thiệu cậu với đồng nghiệp của tớ tại Luân- đôn. Tớ không hề đùa, ngay cả khi đi chữa răng tớ cũng c̣n cười nhiều hơn lúc này ! Jonathan, hoặc tớ và cậu, hoặc đối thủ của chúng ta sẽ giành được quyền đăng cai buổi đấu giá những bức tranh này, tùy cậu thôi, hơn thua trên thị trường luôn được đánh giá theo chất lượng chuyên môn.
Jonathan nhíu mày, anh bồn chồn quấn sợi dây điện thoại quanh ngón trỏ.
- Không thể có năm bức tranh của Radskin được rao bán ở Luân- đôn.
- Tớ không hề bảo cậu chúng sẽ được bán ở đó, chúng chỉ được trưng bày thôi. Với một bộ sưu tập tầm cỡ đó, tớ sẽ tổ chức bán tại Boston... và tớ sẽ cứu văn được sự nghiệp của ḿnh.
- Số liệu của cậu không chính xác, Peter ạ. Tớ nhắc lại rằng không thể có năm bức tranh được rao bán. Tớ biết rất rơ các bức tranh của Radskin hiện đang ở đâu, chỉ có bốn bức trong số đó hiện đang nằm trong tay những nhà sưu tập giấu tên.
- Tất nhiên rồi, cậu là chuyên gia mà, Peter đáp rồi nói thêm vẻ chế nhạo: Chính v́ vậy mà tớ gọi cậu vào giờ này, v́ nghĩ rằng bí ẩn đó có lẽ sẽ đáng giá hơn một bữa ăn tối. Lát gặp nhé.
Jonathan nghe một tiếng cạch, Peter đă bỏ máy mà không chào. Anh gác điện thoại lên tường. Một vài giây sau, Anna, không bỏ sót một lời của câu chuyện, cũng gác máy trong xưởng vẽ. Cô đặt bút vẽ xuống ống nước, choàng chiếc khăn dạ lên người, luồn tay vuốt lại mái tóc xơa rồi theo lối cầu thang xuống bếp. Jonathan vẫn đứng trầm tư cạnh điện thoại. Tiếng Anna làm anh giật ḿnh.
- Ai gọi anh thế ?
- Peter.
- Anh ta khoẻ chứ ?
- Ừ.
Anna hít một hơi thật sâu mùi hoa từ bi tràn ngập trong căn pḥng. Cô mở cửa ḷ nướng và ngắm món ăn đang chuyển dần sang màu vàng dưới sức nóng của ḷ nướng.
- Chúng ta sẽ ăn một bữa thật ngon, em bật phim rồi chờ anh trong pḥng khách nhé, em đói gần chết rồi đây, anh đói không ?
- Có, có, Jonathan trả lời bằng giọng gần như lănh đạm.
Đi ngang qua bàn bếp, Anna túm lấy một cọng a- ti- sô bỏ vào miệng.
- Em sẵn sàng chịu đày đoạ để được ăn đồ Ư, cô vừa nhai vừa nói.
Cô chùi một giọt dầu dính ở khóe miệng rồi đi ra. Jonathan thở dài, lấy khay thức ăn nóng rẫy từ trong ḷ ra và khéo léo bày lên một chiếc đĩa. Anh đặt các món khai vị xung quanh món chính, cất phần của ḿnh vào tủ lạnh. Rồi anh mở một chai rượu chianti ( một loại rượu vang Ư ), đổ đầy một chiếc ly chân cao thật đẹp đặt bên cạnh đĩa pho- mát mozzarella ( một loại pho- mát làm từ sữa trâu ).
Anna ngồi chờ trên ghế sofa, màn h́nh tinh thể lỏng đă bật sẵn, chỉ c̣n việc nhấn nút điều khiển, đầu DVD sẽ bắt đầu phát bộ phim của Capra.
- Anh có muốn em ra bếp lấy đĩa hộ anh không ? Cô dịu dàng hỏi trong khi Jonathan đặt đĩa thức ăn lên đùi cô.
Anh ngồi xuống bên cạnh và cầm lấy tay cô. Vẻ áy náy, anh giải thích với cô anh sẽ không ăn tối ở nhà. Không để cô kịp phản ứng, anh kể cho cô nghe mục đích cuộc gọi của Peter và nhẹ nhàng xin lỗi cô. Anh phải đi, không phải chỉ v́ anh mà c̣n v́ người bạn đang rơi vào một hoàn cảnh nghề nghiệp rất tế nhị. Nhà Christie s sẽ không thể nào hiểu nổi v́ sao anh có thể bỏ qua một cuộc bán đấu giá như vậy. Đó có thể là một lỗi nghề nghiệp ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự nghiệp mà cả cô cũng hết sức giữ ǵn. cuối cùng, anh thú thật với cô rằng từ lâu anh đă mơ ước có dịp được tới gần các bức tranh đó, được đưa tay lướt nhẹ trên các vệt sơn nổi, được ngắm nh́n những màu sắc chân thực, không bị ống kính máy ảnh hay việc in trên giấy làm nḥe sắc độ.
- Ai là người rao bán chúng ? Cô khẽ hỏi.
- Anh không biết. Có thể chúng thuộc về một người thừa kế pḥng tranh của Radskin. Chưa bao giờ anh t́m thấy bất cứ dấu vết được bày bán của những bức tranh này, và trong lần đầu tiên xuất bản cuốn ca- ta- lô về vị danh hoạ, anh đă buộc phải tự hài ḷng với các bức ảnh cũng như giấy chứng nhận nguyên bản.
- Có bao nhiêu bức tranh được rao bán ?
Jonathan lưỡng lự trước khi đưa ra con số. Anh biết sẽ không thể mong cô chia sẻ với anh niềm hy vọng được khám phá bức tranh thứ năm mà Peter đă nói. Bức hoạ cuối cùng của Vladimir Radskin trong mắt Anna chỉ là ảo tưởng, một hệ quả của niềm say mê cuồng nhiệt và nguy hại mà người chồng chưa cưới của cô dành cho ông già hoạ sĩ điên rồ.
Jonathan bước tới tủ quần áo, mở một chiếc va- li nhỏ, chọn một vài chiếc áo sơ- mi được gấp cẩn thận, một cái áo len mỏng, vài chiếc cà- vạt và quần áo lót đủ dùng trong năm ngày. Tập trung vào việc soạn hành lư, anh không nghe thấy cả tiếng chân Anna bước tới đằng sau.
- Anh lại bỏ em đi theo nhân t́nh của anh, chỉ cách lễ cưới của chúng ta có bốn tuần, anh thật không biết điều chút nào !
Jonathan ngẩng đầu lên, đường nét gợi cảm của cô vợ chưa cưới nổi bật trên khung cửa.
- T́nh nhân của anh, theo cách nói của em, là một hoạ sĩ già, bị điên, cũng theo lời em nói, và đă qua đời cách đây vài chục năm. Trước ngày cưới của chúng ta, điều này lẽ ra phải khiến em yên tâm về con người anh chứ.
- Em không biết nên hiểu những lời vừa rồi của anh như thế nào, và em có c̣n nằm trong phạm vi những mối quan tâm của anh hay không.
- Anh không hề có ư ǵ cả, anh trả lời và ṿng tay ôm lấy cô.
Anna t́m cách cưỡng lại, cô đẩy anh ra.
- Anh càng lúc càng quá đáng !
- Anna, anh không có sự lựa chọn nào khác. Đừng làm cho mọi việc trở nên phức tạp. Tại sao anh không thể chia sẻ được với em những niềm vui kiểu này nhỉ, khỉ thật !
- Thế nếu Peter gọi điện trước giờ cử hành hôn lễ, th́ anh có hoăn đám cưới lại không ?
- Peter là bạn thân nhất của anh, và là người làm chứng cho chúng ta, cậu ta sẽ không bao giờ gọi điện trước giờ hôn lễ.
- Thật sao ? Anh ta sẽ chẳng thấy ngại đâu !
- Em nhầm rồi, ngoài sự hài hước mà em chẳng buồn nhận thấy ở cậu ta, Peter c̣n là người rất tế nhị.
- Nếu thế th́ anh ta quả khéo che giấu. Nhưng nếu anh ta gọi, th́ anh sẽ làm ǵ ?
- Nếu vậy th́ anh nghĩ có lẽ ḿnh sẽ phải từ chối t́nh nhân để hoàn thành hôn lễ với người vợ của anh.
Jonathan hy vọng, mặc dù không thật tin tưởng lắm, rằng Anna sẽ không tiếp tục chất vấn anh nữa. Không muốn châm thêm dầu vào lửa những tranh căi mà cô đang cố nhen lên giữa họ, anh thu xếp hành lư và bước vào buồng tắm để lấy nốt một số đồ vệ sinh cá nhân. Cô vội vă bước theo anh. Anh đi ngang qua cô và với tay lấy chiếc áo măng- tô. Khi anh cúi người định hôn cô, cô lùi lại và nh́n anh.
- Anh thấy không, chính anh đă thừa nhận đấy thôi, Peter hoàn toàn có khả năng gọi anh vào ngày hôn lễ !
Jonathan bước xuống cầu thang ; khi đă xuống tới sảnh, anh vặn nắm đấm cửa rồi quay lại nh́n Anna hồi lâu, lúc này cô đang đứng khoanh tay từ trên cầu thang nh́n xuống.
- Không đâu, Anna ạ, cậu ta biết rằng nếu không làm như vậy th́ đến sáng thứ hai anh sẽ giết cậu ta.
Anh bước ra ngoài và sập mạnh cửa. Jonathan ra hiệu gọi một chiếc taxi. Anh yêu cầu người lái xe đưa anh tới sân bay Logan. Cơn dông đă khiến thành phố ngập úng. Nước chảy trên vỉa hè đă xoá ngay những dấu chân anh. Khi chiếc xe đă đi xa, bức mành sáo trên cửa sổ xưởng vẽ của Anna rũ xuống. Cô mỉm cười.
Jonathan đứng chờ Peter trước cửa lên máy bay của chuyến bay BA 776. Anh dơi mắt theo những hành khách cuối cùng đang biến mất cuối hành lang. Một bàn tay đặt lên vai anh. Nh́n thấy vẻ mặt nhăn nhó của bạn, Peter nhướn mày. - Tớ vẫn c̣n là người làm chứng của cậu chứ?
- Cứ theo đà này, cậu sẽ là người làm chứng cho vụ ly hôn của tớ.
Nếu cậu muốn, th́ tớ cũng sẽ nhận lời thôi, nhưng cậu phải kết hôn trước mới được, có những chuyện kiểu ǵ cũng phải tuân theo trật tự thời gian.
Người phụ trách đội bay đưa mắt nh́n họ sốt ruột, cánh cửa máy bay chỉ c̣n chờ nốt họ là có thể đóng lại. Peter chọn chỗ ngồi cạnh cửa kính. Jonathan vừa kịp xếp chiếc va- li nhỏ lên ngăn hành lư th́ máy bay bắt đầu chuyển bánh.
Một tiếng sau, khi cô tiếp viên bước lại dăy ghế của họ, Peter nhă nhặn thông báo rằng cả hai đều sẽ không dùng tới khay thức ăn cô mang tới. Jonathan ngạc nhiên nh́n bạn.
- Cậu đừng lo! Peter th́ thầm thông cảm. Tớ đă nghĩ ra hai độc chiêu đáng giá ngàn vàng để cải thiện các chuyến bay đường dài. Tớ đă ghé tiệm bán đồ ăn sẵn ưa thích nhất của cậu và mua một số món để chúng ta có thể thưởng thức một bữa tối thật thịnh soạn. Tớ hơi cảm thấy có lỗi v́ món lasagne của cậu.
Món cà trộn pho- mát bỏ ḷ, Jonathan khó chịu nói. Thế bữa tiệc của cậu đâu, tớ sắp chết đói rồi đây? - Nó nằm ở một trong những ngăn hành lư phía trên đầu chúng ta. Ngay sau khi nàng tiếp viên và xe thức ăn kia khuất sau tấm ri- đô, tớ sẽ dọn lên bữa tối của chúng ta!
- Thế độc chiêu thứ hai của cậu là ǵ?
Peter nghiêng người lấy từ trong túi áo ra một hộp thuốc viên và lắc lắc trước mặt bạn. - Là cái này! Anh nói vẻ tự măn và ch́a ra hai viên thuốc màu trắng. Đây là một viên thuốc thần kỳ. Khi tỉnh dậy cậu có thể nh́n ra cửa sổ và tự nhủ: "Ḱa, sao trông giống London ghê!"
Peter đổ hai viên thuốc vào ḷng bàn tay. Anh đưa một viên cho bạn nhưng Jonathan từ chối.
- Cậu sai lầm rồi đấy, Peter vứa nói vừa ném viên thuốc vào sâu trong họng. Đây không phải là thuốc ngủ, chỉ giúp cho cậu dễ chợp mắt hơn thôi, và tác dụng phụ duy nhất của nó, là cậu sẽ không hề có chút cảm giác ǵ về thời gian trong suốt chuyến bay.
Jonathan không đổi ư. Peter tựa đầu vào ô cửa và mỗi người theo đuổi những suy tư riêng của ḿnh. Cô tiếp viên trưởng kết thúc công việc của ḿnh và biến mất vào khoang dành riêng cho nhân viên hàng không. Jonathan tháo dây an toàn rồi đứng lên.
- Trong ngăn nào? Anh hỏi Peter rồi chỉ tay lên các ngăn hành lư phía trên.
Peter không trả lời. Jonathan cúi người xuống và nhận ra bạn thiu thiu ngủ. Anh đập nhẹ tay lên vai Peter, ngập ngừng một lát rồi lại thử lay bạn thêm vài lần nữa nhưng vô ích, Peter đă ngủ mê mệt. Jonathan mở nắp ngăn hành lư ngay trên chỗ họ ngồi. Khoảng một chục chiếc túi du lịch và áo khoác được xếp lộn xộn, chồng chất lên nhau. Anh cáu kỉnh ngồi xuống. Khoang hành khách ch́m trong bóng tối. Một giờ đồng hồ sau, Jonathan tắt đèn ngủ và t́m cách lục lấy hộp thuốc ngủ trong túi áo bạn. Peter ngáy đều đặn, đầu gục xuống mép cửa, Jonathan không có cách nào với tới túi áo bên phải của bạn.
Sáu tiếng sau, cô tiếp viên lại hiện ra trước cửa khoang hành khách, tay đẩy một chiếc xe khác. Bị cơn đói hành hạ suốt cả chuyến bay, Jonathan hạnh phúc đón nhận khay đựng bữa sáng. Cô tiếp viên nghiêng người mở mặt bàn cho Peter, lúc này vừa tỉnh giấc, miệng vẫn c̣n ngáp khi cô đưa cho anh khay đồ ăn. Anh vụt ngồi thẳng dậy.
- Tớ đă nói với cậu là tớ sẽ phụ trách bữa tối cơ mà! Anh vừa nói vừa tức giận nh́n Jonathan. - Nếu cậu nói thêm một lời nữa, lần sau tỉnh dậy cậu sẽ nh́n qua cửa sổ và tự nhủ: "Ḱa, sao trông giống bệnh viện Thánh Vincent ở London thế nhỉ!"
Cô tiếp viên đặt khay thức ăn lên mặt bàn của Peter, Jonathan nhặt chiếc bánh ḿ và bánh sừng ḅ trên khay và đưa lên miệng nhai vội vă trước vẻ mặt sửng sốt của bạn.
Một chiếc taxi đưa họ từ sân bay Heathrow tới tận trung tâm London.
Vào buổi sớm tinh mơ, đi xuyên qua quảng trường Hyde Park quả là một điều thú vị, khiến người ta sẵn sàng quên mất ḿnh đang ở giữa ḷng một trong những thủ đô lớn nhất Châu Âu. Những thân cây cổ thụ ẩn hiện trong làn sương mù dày đặc vẫn c̣n bao trùm thảm cỏ rộng mênh mông. Jonathan nh́n qua cửa xe, chăm chú theo dơi đôi ngựa đốm xám đang sóng bước, móng gơ trên nền đường ẩm ướt bằng cát nện của lối đi dành cho xe ngựa. Họ đi qua cánh cửa song sắt mang tên Cửa Ông Hoàng. Lúc này vẫn chưa tới tám giờ sáng, vậy mà tại bùng binh Marble Arch thực là một địa ngục của các ḍng xe. Họ đi dọc theo đường Park Lane và cuối cùng được chiếc ta- xi đen thả xuống cửa sảnh có mái che của khách sạn Dorchester, nằm ngay cạnh công viên khu phố Mayfair sang trọng. Hai người lấy ch́a khóa pḥng rồi ai về pḥng nấy. Một lát sau, Peter sang pḥng Jonathan. Đang thay quần áo, Jonathan ra mở cửa cho bạn trong chiếc áo sơ- mi trắng và một chiếc quần cộc bằng vải kẻ ô kiểu Ê- cốt.
- Tớ nhận ra vị du khách lịch lăm đây rồi! Peter vừa bước vào vừa đùa cợt. Tớ đang tự hỏi cậu sẽ ăn mặc như thế nào nếu tớ đưa cậu sang Châu Phi? Chuyến bay đă làm tớ mệt nhoài rồi, anh nói thêm và thả người ngồi lún sâu vào chiếc ghế bành da to đùng kê cạnh cửa sổ.
Jonathan không trả lời, biến mất sau cánh cửa buồng tắm.
- Cậu vẫn c̣n giận hả? Peter hét to.
Jonathan ló đầu ra từ cánh cửa khép hờ.
- Tớ đă trải qua ḱ nghỉ cuối tuần bằng cách ngồi nh́n cậu ngủ ngon trong máy bay và rất có khả năng tớ đang bị đe dọa ly thân vào thời điểm chỉ c̣n bốn tuần trước ngày cưới. Tại sao tớ phải giận cậu cơ chứ? Anh vừa hỏi vừa chỉnh lại nút thắt cà- vạt.
Bao giờ cậu cũng mặc quần cuối cùng hả? Peter giễu cợt hỏi.
- Điều đó làm cậu khó chịu sao?
- Không, không hề, có điều nếu chẳng may gặp hỏa hoạn, nếu là tớ, tớ sẽ cảm thấy đỡ ngại hơn khi phải chạy ra hành lang mà chưa kịp đeo cà- vạt.
Jonathan ném ra một cái nh́n cáu bẳn.
- Đừng có cau có như thế, Peter nói tiếp, chúng ḿnh tới đây v́ ngài danh họa của cậu đấy chứ.
- Ít nhất th́ người đưa tin của cậu cũng đáng tin cậy hả?
- Với cái giá mà tớ phải trả, tớ nghĩ tốt nhất anh ta nên thế! Anh ta đă viết rơ ràng năm bức tranh trong bức thư điện tử gửi cho tớ, Peter vừa nói vừa nh́n qua cửa sổ.
- Nếu thế gă ấy nhầm rồi, tin tớ đi!
- Tớ nhận được thư của cậu ta lúc vừa tỉnh giấc, và tớ đă gọi lại hắn măi không được. Lúc đấy ở bên này muộn quá rồi, và tớ th́ không thể trách hắn v́ đă tự cho phép xả hơi vào tối chủ nhật.
- Cậu lại tỉnh giấc lúc trời đă xế chiều hả?
Peter tỏ vẻ lúng túng khi trả lời Jonathan.
- Tớ thức hơi khuya... Này anh bạn, chính tớ mới là người phải hy sinh kỳ nghỉ cuối tuần để cậu được thỏa niềm đam mê, cho nên đừng có làm tớ cảm thấy tội lỗi như vậy nữa!
Theo cậu th́ một buổi bán đấu giá tầm cỡ như vậy sẽ không giúp ǵ cho cậu thoát khỏi những rắc rối với các cộng sự của ḿnh phải không, thưa ngài chuyên gia đấu giá?
- Thôi th́ cứ cho là chúng ta cũng hy sinh kỳ nghỉ cuối tuần v́ một mục đích chung vậy!
- Cậu c̣n tin tức ǵ khác không?
- Địa chỉ pḥng tranh nơi các bức tranh sẽ được triển lăm bắt đầu từ hôm qua. Đó sẽ là nơi diễn ra các cuộc thẩm định, cho tới khi chủ nhân các bức tranh t́m được người xứng đáng giao trách nhiệm tổ chức buổi bán đấu giá.
- Thế hiện giờ ai đang là đối thủ của cậu?
- Tất cả những người nào có trong tay một chiếc búa và biết nói "đấu giá kết thúc". Tớ hoàn toàn trông cậy vào cậu để họ chọn tớ là người được nói câu này trong buổi bán đấu giá sắp tới!
Danh tiếng của Jonathan xứng đáng là một con át chủ bài trong cuộc chạy đua giành cơ hội này giữa những chuyên gia đấu giá. Là người đầu tiên có mặt, lại đi cùng một nhà chuyên môn tầm cỡ như Jonathan, Peter quả đă đi trước một bước dài.
Họ băng qua căn sảnh rộng của Dorchester, Peter dừng lại trước bàn người gác cửa. Anh ch́a ra một mẩu giấy nhỏ và hỏi thăm đường tới địa chỉ ghi trên đó. Người đàn ông trong bộ đồng phục đỏ liền đi ṿng qua quầy, mở một tấm bản đồ khu phố và dùng bút vạch đường họ phải đi để đến được pḥng tranh. Bằng giọng long trọng, ông khuyên họ nên ngẩng đầu lên một vài lần, tại những địa điểm mà ông đă đánh một dấu thập, để chiêm ngưỡng mặt tiền của một vài ṭa nhà cổ, hoặc một ṭa dinh thự mà chắc chắn họ sẽ thấy thích thú. Bối rối, Peter nhướn mày hỏi người gác cổng xem ông ta có t́nh cờ có một người họ hàng xa đang sống ở Boston không. Người gác cổng tỏ vẻ ngạc nhiên v́ câu hỏi của anh, rồi tận t́nh đưa hai người tới tận cánh cửa quay và giữ cửa chờ họ đi qua. Sau đó, ông lại đi cùng họ ra tận phần sảnh có mái che bên ngoài và cẩn thận nhắc lại tất cả những chỉ dẫn vừa mới được tŕnh bày trước đó vài phút. Peter cầm lấy tấm bản đồ từ tay ông và kéo Jonathan đi luôn.
Họ men theo những con phố nhỏ lấp loáng ánh nắng. Mặt tiền các cửa hàng nằm dọc các vỉa hè lát gạch trắng đua nhau trưng bày đủ kiểu màu sắc. Những chậu hoa treo đều đặn trên các cột đèn đung đưa trong gió nhẹ. Jonathan có cảm giác như đang sống trong một thời đại khác. Anh đang đi tới một cuộc hẹn mà anh đă chờ đợi từ rất lâu, vừa đi vừa ngắm những mái nhà được lợp bằng ngói gỗ hoặc đá đen. Ngay cả khi người đưa tin của Peter có nhầm lẫn, ngay cả khi Jonathan phải thất vọng như anh đă chuẩn bị tinh thần sẵn, th́ anh cũng biết tại một trong những pḥng tranh nằm quay lưng về phía đường Piccadilly, rốt cuộc anh sẽ được đứng gần những tác phẩm cuối cùng của Vladimir Radskin. Chưa đầy mười phút là họ đă tới trước số 10 phố Albermarle. Peter lấy mẩu giấy trong túi áo vét ra kiểm tra lại địa chỉ. Anh đưa mắt nh́n đồng hồ và áp mặt vào những thanh sắt bảo vệ lớp kính của pḥng tranh.
- Chắc họ vẫn chưa mở cửa, anh nói vẻ bực ḿnh.
Lẽ ra cậu phải làm cảnh sát mới đúng, Jonathan đáp ngay lại.
Nh́n sang bên kia đường, Jonathan nh́n thấy một quán cà phê, bánh ngọt có mặt tiền toàn bằng kính. Anh quyết định đi sang đường, Peter theo sau. Quán cà phê có địa điểm thật đẹp. Mùi thơm lừng của hạt cà phê mới xay quện lẫn mùi bánh ḿ nóng vừa ra ḷ. Một vài người khách ngồi chống tay lên những mặt bàn cao, ai nấy đều đang vùi đầu vào đọc tạp chí hoặc báo. Khi hai người bước vào, không ai trong số họ ngước mắt lên.
Tới trước quầy bar lát đá hoa vân xám, họ gọi hai cà phê capucino, rồi mỗi người tự cầm lấy cốc của ḿnh đi về phía chiếc bàn nhỏ kê sát vách bằng kính. Đó cũng là lần đầu tiên Jonathan nh́n thấy Clara. Cô mặc một chiếc áo khoác màu be, ngồi trên một chiếc ghế cao, vừa lật từng trang cuốn tạp chí Herald Tribune vừa nhấm nháp từng ngụm cà phê kem. Măi đọc, cô lơ đăng đưa cốc nước c̣n nóng lên miệng, nhăn mặt v́ bị bỏng, không hề rời mắt khỏi cuốn tạp chí, cô đặt cốc nước xuống mặt bàn và lật nhanh sang trang khác. Trông Clara thật gợi cảm, cho dù lớp kem đă quết lên môi trên của cô một vệt ria trắng hơi khó coi. Jonathan mỉm cười, anh rút một tờ khăn giấy mỏng, tiến lại gần và đưa cho cô. Clara cầm lấy song vẫn không ngẩng đầu lên. Cô lau miệng và máy móc đưa trả lại cho anh. Jonathan cất tờ giấy vào túi áo khoác song vẫn không rời mắt khỏi Clara. Đọc xong bài báo khiến cô có vẻ không vui, cô đẩy cuốn tạp chí ra và lắc đầu từ phải qua trái, rồi quay lại nh́n Jonathan, bối rối.
- Chúng ta có quen nhau không?
Jonathan không trả lời.
Tay cầm chiếc khăn giấy, anh chỉ lên cằm ḿnh. Clara chấm chấm lên mặt, đưa trả lại chiếc khăn, suy nghĩ một vài giây rồi đôi mắt chợt vụt sáng.
- Xin lỗi anh, cô nói. Tôi thành thật xin lỗi, tôi không hiểu sao tôi vẫn tiếp tục đọc tạp chí này, mỗi lần đọc, nó đều làm tôi bực bội hết cả ngày.
- Thế bài báo đó viết ǵ? Jonathan hỏi.
- Chẳng có ǵ quan trọng, Clara trả lời, toàn những điều ra vẻ vừa chuyên môn vừa uyên bác, song rốt cuộc chỉ toàn những nhận định ngạo mạn.
- C̣n ǵ nữa không?
Anh thật tốt khi tỏ ra quan tâm như vậy, song chưa chắc anh đă hiểu được đâu, đây là một vấn đề chán ngắt liên quan tới chuyên môn của tôi.
- Th́ cứ cho tôi một cơ hội, thế cái thế giới ấy của cô là ǵ?
Clara nh́n đồng hồ và với ngay lấy chiếc khăn quàng cổ để trên chiếc ghế
kế bên.
- Hội họa! Đến lúc tôi phải đi, sắp muộn rồi, tôi đang chờ một đợt giao hàng.
Cô đi ra cửa và quay người lại trước khi ra đến ngoài.
- Một lần nữa, cám ơn anh...
- Có ǵ đâu, Jonathan ngắt lời.
Cô vẫy tay chào anh và đi ra. Qua cửa kính, Jonathan nh́n cô chạy băng qua đường. Tới vỉa hè bên kia, cô nhét ch́a khóa vào một chiếc hộp nhỏ được gắn trên bề mặt tường và tấm màn sắt trước cửa pḥng tranh số 10 phố Albermale từ từ kéo lên. Peter lại gần Jonathan.
Cậu làm ǵ thế?
- Tớ nghĩ là chúng ta đi được rồi, Jonathan vừa nói vừa nh́n theo bóng Chúng ta có hẹn với cô gái ấy ư?
- Tớ có cảm giác đúng như vậy.Clara biến mất trong pḥng tranh.
- Nếu vậy th́ cậu phải thay đổi ngay cái cách cậu nh́n cô ta đi.
- Cậu nói thế nghĩa là sao?
Cậu đừng cho tớ là thằng ngốc, nhưng thôi không sao, dù sao th́ hai chục năm nay tớ cũng quen rồi.
Đáp lại vẻ ngạc nhiên của Jonathan, Peter nhăn mặt à chỉ tay vào cằm ḿnh. Anh bước ra khỏi cửa hàng, vừa giả vờ vung vẩy một chiếc khăn mùi xoa trong tay. Ánh mặt trời chiếu sáng khắp pḥng tranh. Jonathan t́ đầu vào lớp kính. Các bức tường vẫn c̣n trơ trụi, căn pḥng trống trơn, cô gái có lẽ đang ở phía sau quầy. Anh nhấn chiếc chuông nhỏ nằm kế bên cánh cửa gỗ sơn màu xanh da trời. Peter đứng phía sau anh. Một vài giây sau Clara xuất hiện. Cô vẫn mặc chiếc áo khoác ban năy, hai tay thọc sâu vào túi. Cô mỉm cười nhận ra Jonathan, kéo chốt rồi mở hé cửa.
- Tôi để quên ch́a khóa ở quán cà phê chăng?
- Không, Jonathan đáp, nếu không th́ tôi đoán cô đă không thể vào.
- Có lẽ anh nói đúng, hay tôi để quên ví?
- Cũng không luôn.
- Sổ tay của tôi! Tôi luôn để mất nó, có lẽ v́ tôi căm ghét các cuộc hẹn. - Cô yên tâm, tôi cam đoan là cô chẳng để quên ǵ cả.
Nóng ruột, Peter chen lên trước Jonathan và đưa cho Clara chiếc các của anh Peter Gwel, đại diện cho Christie’s, chúng tôi từ Boston vừa đến sáng nay để gặp cô. - Boston? Xa thế kia à, văn pḥng chính của công ty các anh không nằm ở London sao? Clara trả lời và nhường đường để hai vị khách bước vào.
Cô quay người đi vào và hỏi có thể giúp ǵ cho họ. Peter và Jonathan nh́n nhau ngạc nhiên. Jonathan bước theo cô tới cuối pḥng tranh.
- Tôi là chuyên gia thẩm định tranh. Chúng tôi đă được thông báo...
Clara ngắt lời anh, vẻ thích thú.
- Tôi đă đoán ra điều ǵ khiến các anh đến đây, mặc dù các anh đến hơi sớm quá. Như các anh đă thấy,tôi đang chờ chuyến hàng đầu tiên sẽ tới vào sáng nay.
- Chuyến hàng đầu tiên à? Jonathan hỏi.
- Đế đảm bảo an toàn, mỗi bức tranh sẽ được vận chuyển riêng, mỗi ngày một bức. Để xem được hết các bức tranh, có lẽ các anh sẽ phải ở lại London cả tuần tới. Pḥng tranh này hoàn toàn độc lập, song với nghề này, thường là các hăng bảo hiểm có quyền ra lệnh.
- Cô sợ các bức tranh có thể bị đánh cắp trong quá tŕnh vận chuyển à?
- Đánh cắp, hoặc tai nạn, một bộ sưu tập tầm cỡ đó cũng đ̣i hỏi phải chuẩn bị chu đáo một chút.
Một chiếc xe tải sơn biểu tượng của hăng Delahaye Moving đỗ vào vỉa hè trước lớp kính. Clara ra hiệu cho người lái xe chính xuống xe. Peter và Jonathan quả là may mắn, bức tranh đầu tiên vừa được chuyển tới. Tấm cửa lật phía sau được hạ xuống, ba người đàn ông vác chiếc ḥm khổng lồ tới tận giữa căn pḥng. Hết sức cẩn thận, họ dỡ dần từng miếng văn được đóng vào để bảo vệ bức tranh. Cho tới khi bức tranh được lấy ra khỏi hộp đựng bằng gỗ, Clara chỉ cho những người thợ vị trí treo bức tranh. Jonathan nóng ḷng quá mức. Những người vận chuyển treo bức tranh lên bằng sự chính xác rất đáng ngưỡng mộ.

Chương 4

Khi họ vừa rời bức tranh, Clara liền kiểm tra khung và tỉ mỉ xem xét bề mặt tranh. Hài ḷng, cô kư vào phiếu nhận hàng và trả nó cho người đội trưởng.
Mất gần hai tiếng đồng hồ trôi qua, chiếc xe tải mới rời khỏi khu phố. Trong suốt thời gian đó, Peter và Jonathan kính cẩn đứng nh́n Clara nhận và xếp đặt ví trí cho bức tranh. Nhiều lần Jonathan muốn giúp cô nhưng cô không đồng ư. Cô gắn sợi dây báo động và trèo lên một chiếc ghế thang khá cao để xoay từng chiếc đèn chiếu hướng về phía bức tranh. Jonathan đứng ra phía trước và đưa một vài góp ư để điều chỉnh ánh đèn chiếu mà cô c̣n chưa nhín tới nơi. Cô phải tréo xuống nhiều lần để đích thân ngắm nghía kết quả công việc của ḿnh. Càu nhàu một vài lời mà chỉ ḿnh cô hiểu được, Clara lại tréo lên thang và điều chỉnh luồng sáng đèn. Peter th́ thầm vào tai bạn rằng trước đây anh vẫn tưởng bạn ḿnh là người duy nhất điên rồ và bị nhà danh họa Nga ám ảnh, song giờ danh hiệu đó đă t́m được đối thủ cạnh tranh. Jonathan nh́n bạn bằng ánh mắt quở trách và Peter lùi ra xa, suốt khoảng thời gian c̣n lại của buổi sáng anh không rời khỏi chiếc điện thoại di động. Anh vừa nói chuyện điện thoại vừa đi doc theo bức tường kính, có lúc tiến vào giữa pḥng tranh, có khi lại ra tận vỉa hè, trong khi Clara và Jonathan trao đổi với nhau quan điểm của họ về chất lượng ánh sáng đạt được. Tới khoảng một giờ chiều, Clara đứng quan sát bức tranh, bên cạnh Jonathan. Hai tay chống lên hông, nét mặt cô đă giăn ra, cô lấy khuỷa tay huưch anh khiến anh giật nảy người.
- Tôi đói quá, cô nói, c̣n anh?
- Tôi cũng vậy!
- Anh có thích món ăn Nhật không?
- Có.
- Lúc nào anh cũng nói nhiều như thế này à?
- Phải, anh trả lời ngay trước khi nhận thêm một cú huưch tay nữa.
- Bức họa này thật tuyệt, phải không? Clara nói tiếp, giọng xúc động.
- Bức tranh vẽ cảnh một bữa trưa ở đồng quê. Một chiếc bàn kê trên một sân lát đá rộng bên cạnh một ṭa nhà. Khoảng hơn một chục thực khách đang ngồi ăn, một số người nữa đứng ở phía xa hơn. Một cây dương lớn x̣a tán rộng che bóng mát lên hai người đàn ông ăn mặc lịch sự. Nét vẽ của danh họa chân thực tới mức tạo cảm giác như hai nhân vật đang nhấp nháy môi thành lời tṛ chuyện với nhau. Màu sắc của tán lá và bầu trời tươi sáng cho thấy đó là một buổi chiều hè đẹp trời, cho dù cách đây cả thế kỷ nhưng thực tới mức tạo cảm giác như hai nhân vật đang nhấp nháy môi thành lời tṛ chuyện với nhau. Màu sắc của tán lá và bầu trời tươi sáng cho thấy đó là một buổi chiều hè đẹp trời, cho dù cách đây cả thế kỷ nhưng trong bức họa này là có thể tưởng tượng ra như họ c̣n đang sống. Anh phá tan sự lặng thinh ngưỡng mộ mà Clara và anh cùng gom góp từ lúc năy.
- Đây là một trong những tác phẩm cuối cùng của nhà danh họa. Cô có để ư góc nh́n đặc biệt này không. Rất hiếm khung cảnh được vẽ theo kiểu này. Vladimir đă sử dụng độ cao để làm tăng thêm chiều sâu cho tầm nh́n của ông. Giống như cách thể hiện của một nhà nhiếp ảnh.
- Thế anh có nhận thấy không một người phụ nữ nào xuất hiện quanh bàn ăn không? Cứ cách một ghế lại có một ghế trổng.
Ông ta không bao giờ vẽ phụ nữ.
Ông ấy căm ghét phụ nữ ư?
- Vợ ông ấy mất sớm và không thể nào quên được nỗi đau ấy.
- Tôi chỉ thử anh thôi! Thôi nào chúng ta đi, dạ dày tôi luôn giày ṿ mối khi tôi t́m cách lờ nó đi quá lâu.
Clara kéo Jonathan đi, cô bật camera theo dơi, tắt đèn, bật c̣i báo động và đóng cửa. Trên vỉa hè, Peter vẫn tiếp tục đi đi lại lại, ra hiệu cho họ anh sắp tṛ chuyện xong và sẽ đuổi theo họ.
- Di động của bạn anh không cần phải sạc pin bao giờ hả?
- Cậu ấy tràn trề năng lượng đến nỗi truyền cả sang pin điện thoại rồi!
- Chắc vậy, chúng ta đi nhanh lên thôi, ở ngay trước mặt kia rồi.
Jonathan và Clara băng qua đường, họ bước vào một nhà hàng nhỏ bán đồ ăn kiểu Nhật và chọn một khoang trong góc. Jonathan đưa thực đơn cho Clara đúng lúc Peter xuất hiện trước cửa và nhập bọn cùng họ.
- Chỗ này thật thú vị, anh ngồi xuống và nói. Thật xin lỗi v́ đă để hai người phải chờ, tôi cứ nghĩ với sự chênh lệch giờ giấc, tôi sẽ có một chút thời gian trước khi các văn pḥng ở Boston bắt đầu làm việc, nhưng "chợ chưa họp kẻ cắp đă đến".
- Cậu có đói không? Jonathan hỏi và đưa thực đơn cho anh bạn.
Peter mở thực đơn rồi đặt nó lên bàn, vẻ mặt anh trông thật bực bội.
- Hai người thích món cá sống này lắm hả?
Tôi khoái những món không khiến ḿnh phải đắn đo về độ tươi sống hơn.
- Hai anh em quen nhau lâu lắm rồi phải không? Clara hỏi vẻ thích thú.
Bữa ăn trưa khá dễ chịu. Peter tận dụng hết sức sự thu hút của ḿnh, anh làm cho Clara cười khá nhiều. Anh kín đáo viết vội vài chữ lên một chiếc khăn giấy và nhét vào tay Jonathan. Jonathan mở tờ giấy để trên đùi; sau khi đọc xong, anh vo tṛn mẩu giấy và lén thả nó xuống đất. Phía bên kia đường, dưới bầu trời London vần vũ mây, bức tranh của danh họa già người Nga vẫn tỏa ra ánh sáng của một mùa hè xa xưa dường như không bao giờ ngừng tắt.
Sau bữa ăn trưa, Peter quay về văn pḥng Christie’s trong khi Jonathan và Clara trở lại pḥng tranh. Suốt buổi chiều hôm ấy, anh ngồi trên một chiếc ghế cao, đối diện với bức tranh. Anh chăm chú xem xét từng chi tiết nhỏ qua kính lúp, rồi cẩn thận ghi chép những nhận xét của ḿnh vào một cuốn sổ lớn gáy xoắn.
Peter gọi ngay thợ chụp ảnh tới pḥng tranh vào cuối buổi chiều. Anh ta tỉ mỉ sắp đặt dụng cụ. Vài chiếc ô to màu trắng cắm trên giá ba chân đặt hai bên bức tranh, nối với chiếc máy ảnh ống kính 6×6 bằng những sợi dây.
Trong ánh chiều tà, lớp cửa kính vài chục lần lóe lên những tia sáng theo nhịp đèn flash nối tiếp nhau. Từ ngoài đường nh́n vào, người ta có thể tưởng nhầm một cơn băo đang bùng lên trong pḥng tranh. Đến cuối ngày, người thợ chụp ảnh xếp đồ nghề ra phía sau căn pḥng rồi chào Jonathan và Clara. Anh ta sẽ quay lại vào ngày hôm sau, cũng giờ này, để tiếp tục công việc với bức tranh thứ hai. Trong khi anh ta chào Clara trên ngưỡng cửa, Jonathan kiểm tra lại chữ kư nằm phía dưới bức họa. Đó quả thực là bức Bữa ăn trưa ở đồng quê của Vladimir Radskin, nó đă từng được triển lăm ở Paris hồi đầu thế kỷ, rồi ở Rome trước chiến tranh và sẽ được liệt vào danh mục tác phẩm của danh họa sắp được phát hành.
Đă khá lâu rồi Jonathan mới lại cảm thấy mệt mỏi do lệch múi giờ. Anh đề nghị Clara để anh giúp đóng cửa pḥng tranh. Cô cảm ơn anh nhưng c̣n một số việc phải hoàn thành. Cô tiễn anh ra tận cửa.
- Hôm nay quả là một ngày tuyệt vời, anh nói, tôi vô cùng biết ơn cô.
- Nhưng thật sự tôi có làm được ǵ ghê gớm đâu, Clara trả lời bằng giọng nhẹ nhàng, anh phải cảm ơn ông ấy mới đúng, cô nói thêm và chỉ tay vào bức tranh.
Khi ra đến cửa, anh không thể kiềm chế nổi cái ngáp dài. Anh quay lại và đăm đăm nh́n Clara.
Cô mỉm cười.
- Tôi nghĩ là chúng ta c̣n cả một tuần cho các câu hỏi, giờ th́ anh hăy về ngủ một giấc đi, suốt chiều nay tôi đă tự hỏi không biết anh làm thế nào để có thể đứng vững được.
- Tôi phải có tới cả ngàn câu hỏi dành cho cô, anh nói.
Jonathan lùi bước và giơ tay chào tạm biệt. Clara cũng giơ tay vẫy và một chiếc xe ta- xi đen tiến tới đậu bên hè.
Cảm ơn cô, Jonathan nói.
Anh lên xe và lại ra hiệu chào cô qua cửa sổ. Clara quay vào trong và khép cửa pḥng tranh, cô bước tới sát lớp kính và nh́n theo chiếc xe đi xa dần, vẻ trầm ngâm. Một câu hỏi khác cứ vấn vương trong tâm trí cô kể từ bữa trưa. Cảm giác đă từng gặp Jonathan càng lúc càng trở nên ám ảnh. Khi anh ngồi trên chiếc ghế cao, say sưa ngắm nh́n bức tranh, một vài cử chỉ của anh khiến cô cảm thấy gần như thân thuộc. Mặc dù cô đă cố gắng suy nghĩ rất nhiều, song vẫn không thể nào nhớ ra bất cứ ngày tháng hay địa điểm nào liên quan đến cảm giác này. Cô nhún vai và quay trở lại bàn làm việc. Khi về đến pḥng, Jonathan nhận thấy đốm sáng màu đang nhấp nháy trên điện thoại để bàn. Anh đặt ngay túi xuống, nhấc máy lên và nhấn nút nghe tin nhắn. Giọng nói của Peter vẫn không hề bớt sôi nổi. Hai người được mời tới dự một buổi khai mạc triển lăm, sau đó là cuộc chiêu đăi trong một nhà hàng sang trọng, với những "món ăn đúng nghĩa", "được nấu chín", Peter thông báo. Anh hẹn Jonathan ở sảnh lúc chín giờ tối.
Jonathan làm như không biết nguyên nhân khiến anh ít nhiều thất vọng. Anh để lại một tin nhắn trả lời trong pḥng Peter. Sự mệt mỏi đă hoàn toàn chế ngự anh, anh muốn ở nhà ngủ hơn, họ sẽ gặp lại nhau vào sáng ngày mai. Ngay sau đó, anh bấm số máy nhà ḿnh ở Boston. Chuông điện thoại reo song không có ai nghe máy, có lẽ Anna đang ở trong xưởng vẽ và có thể cô đă ngắt chuông điện thoại, cũng có thể cô đă ra ngoài mà không để máy nhắn tin. Jonathan cởi bỏ quần áo và bước vào pḥng tắm.
Khi trở ra, quấn quanh người một chiếc áo choàng tắm dày bằng vải bông, anh lấy cuốn sổ và đọc lại những ǵ đă ghi chép. Anh đưa tay vuốt nhẹ phía dưới một trang sổ đặc kín chữ, nơi có một kư họa nhỏ mà anh đă nhanh tay thảo trong buổi chiều. Mặc dù đường nét cong vụng về, song có thể dễ dàng nhận ra khuôn mặt của Clara. Jonathan thở dài, đặt cuốn sổ xuống, tắt đèn, hai tay đan sau gáy và nằm chờ giấc ngủ đến.
Một tiếng sau, vẫn chưa ngủ được, anh nhảy xuống khỏi giường, lấy bộ áo complet treo trong tủ, mặc một chiếc áo sơ- mi mới và rời khỏi pḥng. Anh chạy theo hành lang dài dẫn tới thang máy, buộc dây giày khi đă vào bên trong, chỉnh lại cà- vạt khi cửa thang máy mở ra ở tầng trệt. Anh nhận ra Peter đang đứng cạnh cây cột bằng đá hoa cương ở phía đầu kia của gian sảnh. Jonathan bước vội, nhưng khi gần tới chỗ Peter, anh chợt nhận ra dáng một người khác, tràn đầy vẻ nữ tính, đứng cạnh cây cột. Cánh tay Peter choàng qua eo cô gái có thân h́nh tuyệt đẹp, trang phục thoáng hết mức. Jonathan mỉm cười đứng lại trong khi Peter biến mất sau cánh cửa quay. Đứng trơ trọi giữa sảnh của khách sạn Dorchester, Jonathan nh́n quầy bar và quyết định vào đó. Trong quầy đông kín người. Chàng trai phục vụ bàn đưa anh tới một chiếc bàn nhỏ, Jonathan thả ḿnh lút sâu trong chiếc ghế bành rộng bằng da màu đen. Một chai rượu buốc-bông và một chiếc sandwich sẽ dung ḥa mệt mỏi độ lệch múi giờ với những ư muốn bất chợt của anh.
Anh mở tờ báo th́ ánh mắt chợt bắt gặp mái tóc bạch kim của một người phụ nữ ngồi bên quầy bar. Jonathan nghiêng người, song đám đông vây quanh quầy che khuất tầm nh́n của anh, khiến anh không thể nh́n thấy khuôn mặt người phụ nữ. Jonathan nh́n thêm hồi lâu, dường như bà ta đang chăm chú nh́n người pha rượu.
Anh định quay lại với trang báo song chợt nhận ra động tác đặc biệt khi bàn tay đồi mồi của người đàn bà lắc cho các viên đá quay tṛn trong ly whisky, rồi anh nh́n thấy chiếc nhẫn bà ta đeo trên tay. Tim đập rộn ră, anh lập tức đứng dậy. Khó nhọc lắm mới rẽ được một lối đi qua đám đông, cuối cùng anh cũng tới được quầy bar.
Nhưng một phụ nữ khác hẳn tuổi bà ta đă ngồi vào ghế đó. Một đám đàn ông xúm quanh cô, cố t́m cách kéo cô ra nhập bọn với họ. Jonathan phải khó khăn lắm mới có thể bứt ra khỏi đám người đang say sưa. Anh kiễng chân và nh́n thấy mái tóc trắng đi về phía cửa trông như đang trôi trên một đại dương tưởng tượng. Khi anh ra tới nơi, sảnh khách sạn vắng tanh. Anh chạy vội ra bên ngoài, tới phần sảnh có mái che, hỏi người gác cổng xem có nh́n thấy một người đàn bà vừa mới bước ra. Lúng túng, ông nhă nhặn cho anh biết v́ nguyên tắc nghề nghiệp, ông ta không có quyền trả lời những câu hỏi như vậy… Đúng là London.
Ngày hôm sau, Jonathan và Peter gặp nhau từ sáng sớm để cùng chạy bộ trong công viên.
- Này, trông mặt cậu ḱa! Đối với một người xem như đă ngủ suốt mười hai tiếng, nh́n cậu như mất ngủ ấy, Peter nói với Jonathan. Cậu lại ra ngoài phải không?
- Không, chỉ có điều tớ chẳng hề chợp mắt, thế thôi. Thế c̣n cậu, tối qua thế nào?
- Rất đáng kể, toàn những người có địa vị.
Thật sao? Thế cô ta thế nào?
- Rất đáng kể!
- Tớ cũng nghĩ thế.
Peter vịn tay lên vai Jonathan.
- Thôi nào, thật ra th́ tớ chỉ thay đổi kế hoạch vào phút cuối, mà cũng hoàn toàn do cậu không chịu đi cùng tớ. Tớ rất cần cà phê, anh vui vẻ nói, tớ chẳng ngủ được nhiều lắm.
Cậu làm ơn đừng có kể chi tiết với tớ, Jonathan tiếp lời.
- Tâm trạng cậu khá tốt, như vậy là được. Các đối thủ của chúng ta sẽ không thể chỉnh đốn xong đội ngũ trước ngày thứ sáu, như vậy là chúng ta có hơn họ một tuần để giành được buổi đấu giá này. Bây giờ th́ hăy trang bị cho vẻ mặt của cậu một chút quyến rũ trước khi tới gặp "cô chủ pḥng tranh" của chúng ta, tớ vẫn chưa biết ai là người sở hữu các bức tranh song ư kiến của cô ta sẽ đóng một vai tṛ quan trọng và tớ có cảm giác cô ấy cũng không hề thờ ơ trước sự hấp dẫn của cậu.
- Peter, cậu làm tớ phát bực rồi đấy.
- Đấy, tớ đă bảo mà, tâm trạng của cậu thật tuyệt vời! Peter nói vội. Cậu nên đi ngay bây giờ.
- Cậu nói ǵ cơ?
- Cậu chỉ có một ước muốn là quay lại xem bức tranh của cậu, thế th́ đi ngay đi.
- Cậu không đi với tớ à?
Tớ c̣n có việc. Có phải dễ mà mang được các bức tranh của Radskin về Mỹ đâu.
- Nếu thế, cậu tổ chức cuộc bán đấu giá tại London đi.
- Không được, tớ cần sự có mặt của cậu.
- Tớ thấy có vấn đề ǵ đâu?
- Khi nào về khách sạn thay quần áo, cậu lấy cuốn sổ tay và nhớ kiểm tra lại điều tớ nói đây: h́nh như cậu sẽ lấy vợ vào cuối tháng sáu ở Boston.
Cậu muốn bán các bức tranh đó trong ṿng một tháng nữa hả?
- Chúng ta sẽ chốt lại danh mục các tác phẩm trong mười ngày nữa, tớ vẫn có đủ thời gian.
- Bộ năo của cậu có biết là cậu không hề nghiêm túc khi nói thế không?
- Tớ biết, đó quả là một cuộc cá cược điên rồ, nhưng tớ chẳng c̣n lựa chọn nào khác nữa, Peter càu nhàu.
- Tớ không nghĩ là cậu điên, mà thậm chí c̣n hơn thế nữa kia!
- Jonathan, bài báo đó đă làm cả văn pḥng đảo lộn từ trên xuống dưới. Hôm qua trong hành lang, mọi người nh́n tớ như thể tớ đang hấp hối vậy.
- Tại lúc đó cậu đang bị quỷ ám chứ ǵ!
Tớ cũng muốn thế lắm, Peter thở dài. Nhưng không, tớ cam đoan với cậu là mọi chuyện đang xoay chuyển theo chiều hướng rất xấu, buổi bán đấu giá này có thể sẽ cứu được được tớ và tớ thực sự cần cậu hơn bao giờ hết. Phải t́m mọi cách để chúng ta có thể tóm được nhà danh họa già của cậu. Nếu buổi bán đấu giá này tuột khỏi tay chúng ta, tớ sẽ không thể vực lên được, mà ngay cả cậu cũng thế.
Cả tuần này, không khí tại các văn pḥng của Nhà Christie’s tại London cứ sôi lên sung sục. Các chuyên gia, người bán, người mua và những người điều khiển các buổi bán liên tục bàn bạc trong các pḥng họp khác nhau. Các nhà chuyên môn ở mỗi khâu luôn phải gặp nhau từ sáng đến tối, bàn định và lên kế hoạch cho các buổi bán của nhiều chi nhánh trên khắp thế giới, soát lại các danh mục và phân chia các tác phẩm lớn cho những chuyên gia đấu giá. Peter sẽ phải thuyết phục các cộng tac viên để họ đồng ư cho anh mang những bức họa của Vladimir Radskin sang Boston. Trong khoảng non một tháng nữa, dưới búa của anh sẽ là buổi đấu giá các tác phẩm lừng danh của thế kỷ XIX, mà những tạp chí nghệ thuật quốc tế sẽ không thể không tập trung sự chú ư. Đảo lộn chương tŕnh không phải là một việc nằm trong thói quen của ban lănh đạo công ty, Peter biết làm được điều này quả không hề dễ dàng, và trong cảm giác cô đơn, anh chợt thấy nghi ngờ chính bản thân ḿnh.
Khi Jonathan đến trước cửa nhà số 10 phố Albermarle th́ đă hơn mười giờ sáng, Clara đă có mặt ở đó. Qua lớp kính, cô nh́n thấy anh xuống taxi và đi qua đường về phía quán cà phê nhỏ. Vài phút sau, anh bước ra, trong tay cầm hai chiếc cốc to đùng bằng b́a đựng cappuccino, cô mở cửa cho anh. Khoảng gần mười một giờ sáng, chiếc xe tải của hăng Delahaye Moving đến đậu dọc vỉa hè trước cửa pḥng tranh. Chiếc ḥm đựng bức họa thứ hai được đặt trên những chiếc mễ kê ở giữa pḥng, Jonathan thấy trong anh đang lớn dần cảm giác nôn nóng chứa đầy kỷ niệm. Một phần nhờ tuổi thơ mà anh chưa bao giờ hoàn toàn rũ bỏ, anh vẫn luôn giữ cho ḿnh cai cảm giác ngây ngất trước một điều mới lạ. Có biết bao người trưởng thành xung quanh anh đă tự ḿnh đánh mất cái cảm giác tuyệt vời ấy? Cho dù một số người có thể cho đó là lỗi thời, song Jonathan vẫn có thể phấn khích trước màu sắc của một buổi chiều xuống, mùi hương của một mùa, nụ cười trên khuôn mặt của một cô gái xa lạ đi ngang qua đường, anh mắt của một đứa trẻ, cử chỉ là một trong những sự quan tâm nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống thường nhật. Và cho dù Peter thỉnh thoảng vẫn chế giễu anh, Jonathan luôn tự nhủ sẽ măi măi trung thành với một lời hứa với cha anh, rằng anh sẽ không bao giờ để mất đi cái cảm giác ngây ngất ấy. Phải che giấu sự nôn nóng lúc này, đối với anh, c̣n khó hơn cả ngày hôm qua. Có thể anh sẽ phải chờ lâu hơn để được chiêm ngưỡng tác phẩm mà anh hằng mơ tưởng, cũng có thể nó không nằm trong bộ sưu tập này, song Jonathan vẫn tin vào ngôi sao may mắn của ḿnh.
Anh nhẫn nại nh́n những người thợ lần lượt tháo những chiếc đinh khỏi những tấm ván gỗ sáng màu. Cứ mỗi tấm ván được người đội trưởng thận trọng gỡ ra, anh lại có cảm giác tim ḿnh đập mạnh hơn một chút. Clara đứng nh́n anh, tay chắp sau lưng, cô run rấy v́ nóng ruột.
- Tôi ước sao họ lột hết những mảnh gỗ kia ra cùng một lúc, để có thể xem bức tranh ngay bây giờ, Jonathan th́ thầm.
- Tôi đă chọn họ chính v́ họ sẽ làm hoàn toàn ngược lại! Clara thấp giọn trả lời.
Chiếc ḥm hôm nay trông c̣n đồ sộ hơn cả chiếc của ngày hôm qua. Việc tháo dỡ khung bảo vệ c̣n cần khoảng hơn một giờ nữa. Nhóm thợ vận chuyển đă đến giờ giải lao. Họ trèo cả lên thùng xe tải để có thể tận hưởng một ngày nắng đẹp. Clara đóng cửa pḥng tranh và đề nghị Jonathan cũng đi dạo để thay đổi không khí. Họ đi bộ dọc con phố, rồi bỗng nhiên cô gọi một chiếc ta- xi.
- Anh đă bao giờ đi dọc sông Tamise chưa?
Cả tuần này, không khí tại các văn pḥng của Nhà Christie’s tại London cứ sôi lên sung sục. Các chuyên gia, người bán, người mua và những người điều khiển các buổi bán liên tục bàn bạc trong các pḥng họp khác nhau. Các nhà chuyên môn ở mỗi khâu luôn phải gặp nhau từ sáng đến tối, bàn định và lên kế hoạch cho các buổi bán của nhiều chi nhánh trên khắp thế giới, soát lại các danh mục và phân chia các tác phẩm lớn cho những chuyên gia đấu giá. Peter sẽ phải thuyết phục các cộng tac viên để họ đồng ư cho anh mang những bức họa của Vladimir Radskin sang Boston. Trong khoảng non một tháng nữa, dưới búa của anh sẽ là buổi đấu giá các tác phẩm lừng danh của thế kỷ XIX, mà những tạp chí nghệ thuật quốc tế sẽ không thể không tập trung sự chú ư. Đảo lộn chương tŕnh không phải là một việc nằm trong thói quen của ban lănh đạo công ty, Peter biết làm được điều này quả không hề dễ dàng, và trong cảm giác cô đơn, anh chợt thấy nghi ngờ chính bản thân ḿnh.
Khi Jonathan đến trước cửa nhà số 10 phố Albermarle th́ đă hơn mười giờ sáng, Clara đă có mặt ở đó. Qua lớp kính, cô nh́n thấy anh xuống taxi và đi qua đường về phía quán cà phê nhỏ. Vài phút sau, anh bước ra, trong tay cầm hai chiếc cốc to đùng bằng b́a đựng cappuccino, cô mở cửa cho anh. Khoảng gần mười một giờ sáng, chiếc xe tải của hăng Delahaye Moving đến đậu dọc vỉa hè trước cửa pḥng tranh. Chiếc ḥm đựng bức họa thứ hai được đặt trên những chiếc mễ kê ở giữa pḥng, Jonathan thấy trong anh đang lớn dần cảm giác nôn nóng chứa đầy kỷ niệm. Một phần nhờ tuổi thơ mà anh chưa bao giờ hoàn toàn rũ bỏ, anh vẫn luôn giữ cho ḿnh cai cảm giác ngây ngất trước một điều mới lạ. Có biết bao người trưởng thành xung quanh anh đă tự ḿnh đánh mất cái cảm giác tuyệt vời ấy? Cho dù một số người có thể cho đó là lỗi thời, song Jonathan vẫn có thể phấn khích trước màu sắc của một buổi chiều xuống, mùi hương của một mùa, nụ cười trên khuôn mặt của một cô gái xa lạ đi ngang qua đường, anh mắt của một đứa trẻ, cử chỉ là một trong những sự quan tâm nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống thường nhật. Và cho dù Peter thỉnh thoảng vẫn chế giễu anh, Jonathan luôn tự nhủ sẽ măi măi trung thành với một lời hứa với cha anh, rằng anh sẽ không bao giờ để mất đi cái cảm giác ngây ngất ấy. Phải che giấu sự nôn nóng lúc này, đối với anh, c̣n khó hơn cả ngày hôm qua. Có thể anh sẽ phải chờ lâu hơn để được chiêm ngưỡng tác phẩm mà anh hằng mơ tưởng, cũng có thể nó không nằm trong bộ sưu tập này, song Jonathan vẫn tin vào ngôi sao may mắn của ḿnh.
Anh nhẫn nại nh́n những người thợ lần lượt tháo những chiếc đinh khỏi những tấm ván gỗ sáng màu. Cứ mỗi tấm ván được người đội trưởng thận trọng gỡ ra, anh lại có cảm giác tim ḿnh đập mạnh hơn một chút. Clara đứng nh́n anh, tay chắp sau lưng, cô run rấy v́ nóng ruột.
- Tôi ước sao họ lột hết những mảnh gỗ kia ra cùng một lúc, để có thể xem bức tranh ngay bây giờ, Jonathan th́ thầm.
- Tôi đă chọn họ chính v́ họ sẽ làm hoàn toàn ngược lại! Clara thấp giọn trả lời.
Chiếc ḥm hôm nay trông c̣n đồ sộ hơn cả chiếc của ngày hôm qua. Việc tháo dỡ khung bảo vệ c̣n cần khoảng hơn một giờ nữa. Nhóm thợ vận chuyển đă đến giờ giải lao. Họ trèo cả lên thùng xe tải để có thể tận hưởng một ngày nắng đẹp. Clara đóng cửa pḥng tranh và đề nghị Jonathan cũng đi dạo để thay đổi không khí. Họ đi bộ dọc con phố, rồi bỗng nhiên cô gọi một chiếc ta- xi.
- Anh đă bao giờ đi dọc sông Tamise chưa?

° ° °

Họ thả bộ dưới những hàng cây dọc theo bờ sông. Jonathan trả lời tất cả các câu hỏi mà Clara đặt ra cho anh. Cô hỏi anh điều ǵ đă khiến anh trở thành một chuyên gia thẩm định tranh và vô t́nh đă mở ra trong anh một góc nh́n vào quá khứ. Họ ngồi xuống một chiếc ghế băng và Jonathan kể cho cô nghe về buổi chiều mùa thu năm ấy, khi cha anh đưa anh tới thăm bảo tàng lần đầu tiên. Anh mô tả cho cô về kích thước của căn pḥng mênh mông mà cha và anh đă bước vào. Cha anh đă buông tay ra, tín hiệu của sự tự do. Đứa bé chợt dừng lại trước một bức tranh. Người đàn ông được vẽ trong bức tranh treo chính giữa bức tường lớn dường như chỉ nh́n vào nó.
- Đây là một bức tự họa, cha anh th́ thầm, ông ta đă tự vẽ chính ḿnh, rất nhiều họa sĩ làm như vậy. Giới thiệu với con, đây là Vladimir Radskin.
Và thế là chú bé bắt đầu đùa chơi với người họa sĩ già. Cho dù nó trốn sau chiếc cột to, chạy ṿng vèo khắp gian pḥng theo hướng này hay hướng khác, dù nhanh hay chậm, dù bước lên hay xuống, ánh mắt kia vẫn dơi theo và chỉ tập trung vào một ḿnh nó. Ngay cả khi nó nhắm tịt mắt, đứa trẻ biết rằng "người đàn ông trong bức tranh vẫn nh́n nó đăm đăm". Như bị mê hoặc, nó bước lại gần bức tranh và cứ đứng như vậy hàng giờ. Dường như tất cả đồng hồ trong ṿng ngh́n dặm quanh nó đă ngừng kêu tích tắc, như hai thời đại đă ḥa nhập vào nhau bởi sức mạnh của một cái nh́n, một cảm xúc duy nhất. Bằng tất cả tâm hồn của tuổi mười hai, Jonathan bắt đầu tưởng tượng. Bằng một nét cọ trên một bức tranh vượt lên mọi nguyên tắc vật lư, đôi mắt người đàn ông đă gửi qua hàng thế kỷ những lời mà chỉ một ḿnh đứa bé nghe được. Cha anh đă t́m được một chỗ ngồi phía sau anh, trên một chiếc ghế băng. Jonathan say mê ngắm nh́n bức tranh như bị hút hồn: cha anh ngồi ngắm đứa con trai, bức tranh đẹp nhất của đời ông.
- Thế nếu ông không đưa anh tới bảo tang ngày hôm đó, th́ giờ anh sẽ làm ǵ? Clara hỏi bằng giọng rụt rè.
Có phải cha anh, người đàn ông với nụ cười luôn hiện trên môi hay là số phận đă dẫn bước anh tới bức tranh treo tại phía tường ấy? Hay là cả hai? Jonathan không trả lời. Tới lượt anh hỏi Clara điều ǵ đă gắn bó cô với người họa sĩ già. Cô mỉm cười, nh́n chiếc đồng hồ trên gác chuông Big Ben phía xa xa, đứng lên và vẫy một chiếc ta- xi.
- Chúng ta c̣n rất nhiều việc phải làm, cô nói.
Jonathan không gặng hỏi, anh vẫn c̣n có hai ngày nữa, và nếu vận may mỉm cười với anh, nếu bức họa thứ năm thực sự tồn tại, có thể anh sẽ c̣n ba ngày ở bên cô.
Sáng hôm sau, Jonathan lại gặp Clara và những người thợ vận chuyển đă giao bức tranh của ngày hôm đó. Trong khi họ đang bận rộn tháo dỡ, một chiếc Austin bé tí màu đỏ chói dừng trước tường kính. Một thanh niên từ trên xe bước xuống và đi vào pḥng tranh, hai tay ôm một chồng tài liệu. Clara ra hiệu cho anh ta rồi biến mất vào phía trong. Người lạ mặt, không nói một lời, chăm chú nh́n Jonathan chừng mười phút, cho tới khi Clara xuất hiện trong chiếc quần da và một chiếc áo được thiết kề bởi một nhà tạo mẫu nổi tiếng. Jonathan bị choáng ngợp bởi vẻ dịu dàng gợi cảm toát ra nơi cô.
- Chúng tôi sẽ quay lại sau hai tiếng,
Clara nói với người thanh niên. Cô vội vă ôm chồng tài liệu mà người thanh niên để trên bàn bước ra cửa, rồi quay lại nói với Jonathan.
- Anh đi với tôi, cô nói.
Ra tới vỉa hè, cô nghiêng người về phía anh và nói nhỏ:
- Anh ta tên là Frank, làm việc trong một pḥng tranh khác của tôi. Nghệ thuật đương đại! Cô vừa nói thêm vừa chỉnh lại dây áo.
Hơi sửng sốt, Jonathan mở cửa x echo cô. Clara chui vào xe và lách ḿnh qua hộp số sang ghế bên kia.
- Ở chỗ chúng tôi, tay lái nằm phía bên kia, cô vừa nói vừa cười và cho chiếc Cooper khởi động.
Pḥng tranh ở Sôh rộng gấp năm lần pḥng tranh ở Mayfair. Các tác phẩm được trưng bày không thuộc phạm vi chuyên môn của Jonathan, song anh vẫn nhận ra trên tường có ba bức tranh của Basquiat, hai bức tranh của Andy Warhol, một của Bacon, một của Willem de Kooning, cùng các bức tranh khác và một số tác phẩm điêu khắc hiện đại, trong đó có hai bức tượng của Giacometri và Chillida.
Clara trao đổi khoảng nửa giờ với một khách hàng, gợi ư cho một phụ tá trao đổi vị trí hai bức tranh, kiểm tra độ sạch của một đồ gỗ bằng cách kín đáo miết tay lên bề mặt, kư hai tờ séc được kẹp trong một cặp hồ sơ màu cam do một người phụ nữ có mái tóc màu đỏ được thắt bằng vài sợi dây màu xanh tŕnh cho cô. Sau đó, cô gơ một bức thư trên chiếc máy tính cũng rất xứng đáng được xem là một tác phẩm nghệ thuật, rồi tỏ ra hài long, cô đề nghị Jonathan đi cùng cô tới chỗ một đồng sự. Cô yêu cầu ai đó báo với Frank anh sẽ phải ở lại Mayfair hơi lâu một chút. Sau khi chào bốn người đang làm việc ở pḥng tranh, họ lại rời đi bằng chiếc xe nhỏ.
Cô lái xe điệu nghệ theo những con phố hẹp của Sôh và cuối cùng lách được vào chỗ đậu xe duy nhất c̣n trống trên phố Greek. Jonathan đứng chờ trong khi cô thương lượng một bức tượng khá lớn với người bán hàng. Họ về tới số 10 phố Albermarble vào đầu giờ chiều. Vẫn không phải là bức tranh mà anh hy vọng được nh́n thấy, xong vẻ đẹp của bức tranh nhận được cũng an ủi anh khá nhiều.
Người thợ ảnh phá tan bầu không khí thân mật ngắn ngủi mà cả anh và cô mặc dù chưa thú nhận bằng lời, song đều cảm thấy dễ chịu. Trong khi Jonathan xem và đánh giá bức tranh, Clara bận rộn bên bàn làm việc sắp xếp giấy tờ và ghi chép. Thỉnh thoảng, cô ngước mắt lên quan sát anh; đôi lúc anh cũng làm như vậy, và một vài lần ánh mắt họ gặp nhau, hai người cùng vôi vă quay đi để lẫn trốn sự t́nh cờ ấy.
Peter đă ở ĺ cả ngày tại Christie’S, bận rộn tập hợp những tài liệu cần thiết để chuẩn bị cho buổi đầu giá. danh mục của anh. Lúc không bận rộn với những thành viên trong ban quản trị để thuyết phục họ rằng anh hoàn toàn có thể tổ chức mọi thứ đúng hạn, anh lại giam ḿnh trong pḥng dữ liệu. Ngồi trước một màn h́nh máy tính được kết nối với một trong những hệ thống cơ sở dữ liệu tư nhân lớn nhất trong lĩnh vực kinh doanh nghệ thuật, anh lưu lại và sắp xếp tất cả các bài viết và các bức ảnh được thực hiện trong ṿng một thế kỷ về những tác phẩm của Vladimir Radskin. Buổi họp ban quản trị để quyết định số phận của anh đă được dời lại tới hôm sau và Peter có cảm giác như mỗi giờ trôi qua, cổ áo sơ- mi lại càng siết chặt lấy họng anh.
Anh gặp lại Jonathan tại khách sạn để đưa bạn tới một buổi dạ tiệc thượng lưu, những chốn ấy khiến Jonathan căm ghét hơn mọi thứ trên đời. Song, v́ công việc, anh vẫn cố tỏ ra tươi tỉnh trong suốt buổi nhạc kịch với sự có mặt của những nhà sưu tầm nghệ thuật lớn nhất cũng như những nhà kinh doanh nghệ thuật tên tuổi nhất. Tới cuối buổi diễn, Jonathan ra về ngay lập tức. Trong khi đi dạo theo những con phố của Convent Garden, anh nghĩ tới cuộc sống xa xưa từng diễn ra tại đây. Những mặt tiền tuyệt đẹp này trước kia vẫn c̣n nham nhở vôi vữa, những con đường trong khu phố này, giờ là một trong những con phố đắt giá nhất của London, xưa kia tồi tàn và bẩn thỉu. Dưới anh sáng mờ yếu ớt phát ra từ một trong những ngọn đèn cao áp chiếu xuống vỉa hè bóng loáng, khoảng một trăm năm mươi năm về trước, anh đă có thể gặp đâu đó trong con phố nhỏ này một họa sĩ người Nga tay cầm mẩu than đang cặm cụi vẽ những người qua đường hối hả mua bán xung quanh một ngôi chợ.
Peter, về phần ḿnh, đă gặp một cô bạn cũ người Ư vừa mới ghé London. Anh ngập ngừng đôi chút trước khi cô cùng anh uống một vài ly. Dù sao th́ buổi họp cũng chỉ bắt đầu vào đầu giờ chiều mai, là lúc mà thông thường anh cảm thấy cao hưng nhất trong ngày. Lúc này mới nửa đêm, anh bước vào quán rượu trong ṿng tay Melena.

° ° °

Jonathan tỉnh dậy từ sớm, Peter vẫn chưa có mặt tại sảnh như đă hẹn, anh liền tận dụng cơ hội đó để thong thả tản bộ tới pḥng tranh. Cánh cửa sắt bên ngoài vẫn đong kín, anh mua một tờ báo và ngồi chờ Clara trong quán cà- phê. Một lúc sau, anh chàng Frank đến t́m anh và trao cho anh một phong b́. Jonathan xé ra đọc.
Jonathan thân mến,
Thứ lỗi cho sự vắng mặt của tôi, tôi sẽ không thể gặp anh sáng nay. Frank sẽ thay tôi nhận bức tranh và tất nhiên là pḥng tranh vẫn mở rộng cửa chào đón anh. Tôi biết anh rất nóng ḷng được nh́n thấy bức tranh của ngày hôm nay, nó rất tuyệt vời. Lần này tôi để anh toàn quyền xử lư phần ánh sáng, tôi biết anh sẽ xoay sở rất tốt. Tôi sẽ gặp lại anh ngay sau khi giải quyết xong công việc. Chúc anh có được một ngày tốt đẹp với Vladimir. Tôi cũng rất muốn ở lại với anh và ông ấy nhưng không thể.
Thân mến, Clara.
Vẻ mặt ưu tư, anh gấp bức thư lại và cất nó vào trong túi áo. Khi anh ngẩng đầu nh́n lên, chàng thanh niên đă ở bên trong pḥng tranh. Chiếc xe tải của hăng Delahaye Moving tới đậu dọc vỉa hè. Jonathan ngồi chờ bên quầy bar và lấy bức thư của Clara ra đọc lại. Đến khoảng mười một giờ, anh sang chỗ Frank; cho tới tận trưa, họ vẫn không nói với nhau câu nào. Người đội trưởng thông báo với họ công việc tháo dỡ bức tranh c̣n cần thêm chút thời gian. Jonathan nh́n đồng hồ và thở dài, thậm chí anh c̣n chẳng muốn quay lại nghiên cứu những bức tranh đă được treo lên.
Anh ra đứng cạnh cửa kính, thoạt tiên đếm những chiếc xe chạy qua, rồi ước lượng thời gian trung b́nh mà người cảnh sát tuần tra bên kia đường cần để ghi nhớ mỗi tờ giấy phạt, anh đếm được bảy người khách đă bước vào quán cà phê, bốn người trong số họ ở lại gọi đồ uống, ước chừng cây cột điện có lẽ cao khoảng hai mét mốt. Một chiếc Cooper màu đỏ từ cuối phố chạy tới nhưng nó không dừng lại. Jonathan thở dài, anh đi lại bàn làm việc của Clara và cấm lấy điện thoại.
- Cậu ở đâu thế? Anh hỏi Peter.
- Dưới địa ngục! Miệng tớ cứng đơ như phải gió, mà buổi họp của tớ lại bị đẩy lên sớm một tiếng.
- Cậu đă sẵn sàng chưa?
- Tớ đă uống bốn viên aspirin nếu như đó là điều cậu muốn biết, và hiện giờ tớ đang nghĩ tới viên thứ năm. Giọng cậu bị làm sao thế? Peter hỏi đúng lúc anh chuẩn bị bỏ máy.
- Giọng tớ có sao đâu?
- Không sao, giọng cậu nghe cứ như cậu đưa đám ấy.
- Không, rất may, đă lâu tớ không phải dự đám tang nào cả.
- Tớ xin lỗi, thông cảm cho tớ, tớ hơi hoảng.
Tớ lúc nào cũng ở bên cậu, dũng cảm lên, tất cả rồi sẽ tốt đẹp thôi.
Jonathan đặt máy xuống và nh́n Frank đang bận rộn ở phía sau pḥng tranh.
- Anh làm việc ở đây đă lâu chưa? Anh vừa hỏi vừa húng hắng ho.
- Cô chủ đă nhận tôi vào làm cách đây ba năm, chàng thanh niên vừa trả lời, vừa đóng một ngăn kéo đựng tài liệu.
- Cô ấy và anh có hợp nhau không? Jonathan hỏi.
Frank lúng túng nh́n anh vẻ ngạc nhiên rồi quay lại với cộng việc dở dang. Một tiếng sau Jonathan lại phá vỡ sự im lặng bằng cách hỏi cậu ta có muốn cùng anh dùng hamberger vào bữa trưa. Frank ăn chay.
Peter bước vào pḥng họp và ngồi vào chỗ duy nhất c̣n trống quanh chiếc bàn gỗ gụ. Anh chỉnh lại ghế và chờ tới lượt ḿnh. Mỗi lần tới lượt một đồng nghiệp phát biểu, anh cảm giác như có một sư đoàn tăng thiết giáp với những bánh xích gỉ rét đang lăn trên màng nhĩ và sẵn sàng nă súng vào thái dương anh. Những cuộc tranh căi kéo dài bất tận. Người ngồi phía bên phải anh đă nói xong và cuối cùng, th́ cũng đến lượt Peter được mời phát biểu. Các thành viên của hội đồng bắt đầu mở tập hồ sơ anh phát cho họ trước đó. Anh tŕnh bày sơ qua về lịch đấu giá của ḿnh và đặc biệt tập trung vào buổi đấu giá mà anh sẽ thực hiện tại Boston vào cuối tháng Sáu. Khi anh đề cập tới nguyện vọng được bổ sung thêm các bức họa của Vladimir Radskin mới được nhắc tới trong thời gian gần đây tiếng x́ xào nổi lên khắp pḥng. Ông giám đốc chủ tọa buổi họp cất lới. Ông nhắc nhở Peter rằng khách hàng đưa ra những bức họa của Radskin là một pḥng tranh lớn. Nếu giao các bức họa đó cho Nhà Christie’s, chắc chắn khách hàng sẽ trông đợi công ty chăm sóc quyền lợi của họ một cách trân trọng nhất. V́ vậy không nhất thiết phải quá vội vàng trong công tác chuẩn bị. Các buổi đấu giá tại London trong quư hai có thể sẽ thích hợp hơn nhiều.
- Tất cả chúng tôi đều đă đọc bài báo đó, chúng tôi rất thông cảm với anh, Peter thân mến ạ, nhưng tôi sợ rằng anh sẽ khó có thể tạo ra một sự kiện lớn xung quanh Radskin, dù sao th́ ông ta cũng không phải là Van Gogh! Ông giám đốc vui vẻ kết luận.
Tiếng cười cố kiềm chế của các đồng nghiệp khiến Peter vô cùng bực ḿnh song làm anh không c̣n lời nào để tranh luận tiếp nữa.
Một nữ phụ tá bước vào, mang theo một chiếc khay đựng một ấm trà bằng bạc nặng trịch. Tiếng tranh luận chợt ngừng lại trong khi cô đi một ṿng quanh bàn để tiếp trà cho những ai muốn uống thêm. Qua cánh cửa để ngỏ, Jonathan nh́n thấy James Donovan từ một pḥng làm việc bước ra. Donovan chính là người đă gửi bức thư điện tử tới Boston cho anh hôm Chủ nhật.
- Xin thứ lỗi cho tôi vài phút, anh lắp bắp và vội vă bước ra hành lang.
Anh tóm lấy tay áo Donovan và kéo ra hơi xa một chút.
- Nói cho tôi biết, Peter gằn giọng qua kẽ răng, tôi đă để sáu tin nhắn cho anh trong ṿng hai ngày, anh có đánh mất số điện thoại của tôi không?
Xin chào, ông Gwel, chàng trai trầm tĩnh nói.
- Tại sao anh không gọi lại cho tôi? Ngay cả anh cũng đă đọc báo quá nhiều rồi phải không?
- Di động của tôi bị mất cắp và tôi không hiểu ông đang nói ǵ, thưa ông. Peter cố gắng lấy lại b́nh tĩnh. Anh lấy tay phủi nhẹ vạt áo vét của Donovan và kéo anh ra xa hơn chút nữa.
- Nói cho tôi biết, Peter gằn giọng qua kẽ răng, tôi đă để sáu tin nhắn cho anh trong ṿng hai ngày, anh có đánh mất số điện thoại của tôi không?
- Xin chào, ông Gwel, chàng trai trầm tĩnh nói.
- Tại sao anh không gọi lại cho tôi? Ngay cả anh cũng đă đọc báo quá nhiều rồi phải không?
- Di động của tôi bị mất cắp và tôi không hiểu ông đang nói ǵ, thưa ông. Peter cố gắng lấy lại b́nh tĩnh. Anh lấy tay phủi nhẹ vạt áo vét của Donovan và kéo anh ra xa hơn chút nữa.
- Tôi có một câu hỏi đặc biệt quan trọng dành cho anh, và anh sẽ phải tập trung toàn bộ chất xám hiện có để cho tôi một câu trả lời duy nhất mà tôi muốn nghe.
- Tôi sẽ cố gắng hêt sức, thưa ông, Dono van trả lời.
- Về vụ Radskin, có đúng như anh viết trong thư gửi cho tôi là có năm bức tranh sẽ được đưa ra không?
Chàng trai trẻ lấy từ trong túi áo ra một cuốn sổ chỏ bọc da và lật đi một vài trang, lật lại một vài trang rồi lại lật đi vài trang nữa. Cuối cùng anh dừng lại ở một trang và nói bằng giọng phấn khởi:
Chính xác là như vậy, thưa ông.
- Cụ thể là bằng cách nào anh đă có được con số đó? Peter hỏi khi cơn
nóng giận của anh đă lên tới cực điểm.
Người báo tin cho anh giải thích có một pḥng tranh đă liên hệ với Nhà Christie’s và anh ta đă được phái gấp tới cuộc hẹn được ấn định vào thứ sáu tuần trước lúc hai giờ 30 phút chiều tại số 10 phố Abbermarle. Đích thân cô chủ pḥng tranh đă tiếp anh ta và cung cấp cho anh ta mọi thông tin. Khi trở về pḥng làm việc vào lúc bốn giờ chiều, anh ta đă thảo một bản báo cáo và gửi cho sếp ḿnh vào lúc bốn giờ 45 phút chiều. Khi sếp anh ta hỏi trong công ty co chuyên gia đấu giá nào biết rơ về danh họa này không, cô Blenz của pḥng t́m kiếm dữ liệu đă đưa ra cái tên Peter Gwel, người thường xuyên làm việc với Jonathan Gardner, một chuyên gia chuyên nghiên cứu về Vladimir Radskin.
- Tôi vội vàng viết ngay cho ông một bức thư điện tử và gửi đi từ nhà tôi vào buổi chiều hôm thư bảy.
Peter nh́n anh ra chằm chằm và nói ngắn gọn.
- Quả là khá cụ thể, Donovan ạ.
Sau khi cảm ơn anh ta, Peter hít một hơi thật sâu và quay trở vào trong pḥng họp.
- Tôi có một lư do chính đáng để yêu cầu đưa các bức tranh ra trong buổi đấu giá ở Boston ngày 21 tháng sáu, anh tự hào tuyên bố với cử tọa.


o0o

 

Pages  1  2  3  Next